Hiển thị các bài đăng có nhãn nền chính trị pháp quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nền chính trị pháp quyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Đừng có mừng vì Crimea tuyên bố sáp nhập vào nước Nga nữa !!!

Tôi vô cùng phản cảm với những người đang vui mừng hỉ hả vì sự kiện Crimea tuyên bố sáp nhập vào Liên bang Nga , tất nhiên là chưa có bất cứ thủ tục hành chính pháp lí nào tương ứng từ Liên bang Nga , tuy nhiên theo báo chí Việt Nam thì điều này là sớm muộn .
Hãng tin Lenta dẫn lời ông Sergei Naryshkin, Chủ tịch Duma Quốc gia Nga tại một cuộc họp với các nhà lập pháp nước cộng hòa tự trị Crimea, cho biết, tất cả lãnh đạo của các đảng phái trong Duma ủng hộ quyết định của Quốc hội nước Cộng hòa tự trị Crimea. 
Tuyên bố của ông Naryshkin được nhận định ẩn chứa hàm ý rằng, Quốc hội Nga sẽ thông qua cuộc bỏ phiếu ủng hộ sáp nhập Liên bang Nga của Crimea.
Nhà lập pháp hàng đầu Điện Kremlin, ông Leonid Slutsky, cũng khẳng định: “Duma Quốc gia Nga sẽ ra quyết định dựa trên kết quả cuộc trưng cầu dân của người dân Crimea”.
                                                                                                                            Tiền phong
Lí do tôi phản cảm vô cùng đơn giản , đó chính là một minh chứng rất rõ ràng của sự li khai , là thứ mà tôi căm thù kể từ khi chiến tranh Nam Tư kết thúc , hay gần đây hơn là li khai ở Kosovo hay gần hơn nữa là Nam Ossetia và Abkhazia đều là sự vi phạm trắng trợn những nguyên tắc cơ bản nhất về sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia .Điều Tôi cảm thấy ghê tởm hơn nữa chính là hành động và thái độ của những nước lớn trong cuộc , như Mỹ Anh , Pháp ,Nga đối với những quốc gia đó . Một hành động vô cảm , một hành động thể hiện cao nhất sự bá quyền chủ nghĩ vi phạm đến hòa bình và trật tự thế giới .
Tôi lo ngại vào một ngày nào đó khi sự kiện li khai diễn ra ở bên trong đất nước chúng ta , và chúng ta lại lên đầu thớt vì điều đó .
Tôi biết , cuộc chiến tranh năm 2008 ở Gruria khác hẳn về bản chất đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam vào thế kỉ trước vì nó mang đậm vấn đề ngôn ngữ sắc tộc hơn là hành vi áp đặt thuộc địa . Nhưng đâu phải là ngôn ngữ- sắc tộc lại có thể làm cái cớ để bao tre cho chủ quyền quốc gia bị xâm hại ???
Trang mạng VietNamdefence đã đăng :
Hay là "Của Ceasar phải trả lại cho Ceasar", những gì từng thuộc về nước Nga phải trở về với chủ nhân cũ của nó. 

Một người Ukraine nhân danh lãnh đạo Liên Xô, nhân danh Đảng Cộng sản Liên Xô là Nikita Khrushchev đã lấy đi vùng Crimea mà nước Nga sa hoàng và người Nga đã đổ máu xương ra mới giành được hơn 200 năm trước. Để nay,  nước Nga phải bỏ ra hàng trăm triệu đô la để thuê  cho Hạm đội Biển Đen lừng danh là truyền thống hải quân Nga về danh phải ăn nhờ ở đậu trên chính mảnh đất cũ của nước Nga này. Lẽ công bằng ở đâu?
                                                                                                             VietNamdefence
Ngôn ngữ và cách hành văn tương đối hay , nhưng khốn thay đó là hành động mang tính tảng lờ và ngụy biện khủng khiếp , chẳng phải vào cái năm 1954 khi  Khrushchev -Người hoàn toản chẳng mang chút dòng máu Ukraine nào ( nếu như có dòng máu đó ) đã làm cái công việc tặng Crimea cho Ukraine để kỉ niệm 300 năm đất nước Ukraine kia được Nga hoàng chiếm ư ? Nếu thế thì một quốc gia như Ukraine cũng nên được nằm trong Liên bang Nga luôn nhỉ vì vùng đất nó , hiển nhiên lịch sử nằm trong đế quốc Nga cũng không ít hơn là Crimea nằm trong đế quốc Nga là mấy !
Hơn thế chúng ta thấy một cách đánh tráo khái niệm lịch sử sâu sắc ở đây 
Bản đồ phân bổ ngôn ngữ ở Ukraine
Thứ nhất : Họ dựa trên lí do lịch sử mà biểu hiện là đại đa số người dân Crimea là người gốc Nga để chứng minh vùng đất này nên thuộc về nước Nga . Vậy điều này hiển nhiên cũng tương tự với những vùng đất như Donetsk , Luhansk , những vùng đất truyền thống của Ukraine cũng là vùng người dân nói ngôn ngữ Nga và sắc tộc gốc Nga chiếm đa số cũng nên thuộc về nước nga luôn nhỉ ? Vậy thì câu chuyện hay quá rồi , cái lí do lịch sử được biện hộ cho Crimea , cái lí do sắc tộc ngôn ngữ và nhất là tiền lệ sẽ tặng cái cớ cho Donetsk . Như vậy hành động của Crimea có khác gì với hành động của Kosovo các đấy mấy năm không ???
Thứ hai : tộc người chiếm đa số ở Crimea trước khi vùng đất này đặc người Nga hiện nay là nhiều dân tộc khác , điều này đã chứng minh vùng đất này chẳng phải có lịch sử Nga lâu đời đến mức buộc phải trở về với Liên bang Nga .

Trông người lại nghĩ đến ta , Việt Nam là đất nước có đông dân tộc cùng sinh sống , ngoài những dân tộc ít người thì cũng có những sắc dân rất đáng chú ý là người Hoa và người Khơ Me .  Đây là hai dân tộc ít người đã di cư đến Việt Nam hàng trăm năm nay ,tuy nhiên nếu án theo quan điểm li khai kia thì sẽ có một quan điểm phù hợp hơn án vào tình hình Việt Nam : quan điểm của Ponpot đòi sở hữu Tây Nam bộ của chúng ta vậy ...
Nói như thế chỉ để cho mọi người hiểu được rằng cái hành động li khai của Crimea là một hành động chẳng đáng ăn mừng gì mà thôi chứ hoàn toàn không có bất kì ý nghĩ kì thị dân tộc nào .

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2014

Sự thật cuộc tranh chấp tại Ukraina

Vì sao có cuộc đối đầu hiện nay tại Ukraina? Cuộc cách mạng hiện nay được phương tây ủng hộ đang đối đầu với chính quyền được Nga hỗ trợ liệu có thành công và nếu không thành, liệu có một cuộc nội chiến tại Ukraina hay chăng? Để hiểu được điều đó, chúng ta cần phải nhìn nhận và đánh giá cũng như tìm hiểu thực chất Ukraina về dân số, địa lý và lịch sử. 

Ukraina quả thầ là quốc gia cổ xưa ,một cường quốc sla-vơ rất hùng mạnh ,nhưng lịch sử Châu Âu được viết ra trong thời kì cận đại ,và thời kì cận đại -hiện đại của Ukraina thì không còn oai hùng như thế nữa

Ukraina thực chất là một nước được tạo nên từ năm 1991 từ  nhiều vùng đất của nhiều nước khác nhau:
- Khu vực phía tây cho tới năm 1918 thuộc về Hungary và Áo bao gồm cả vùng Galizien, Lembergs
- Một vùng đất rộng lớn trước kia thuộc về Ba lan bị Liên Xô cắt và đẩy Ba lan về hướng tây lấy đất của Đức. Vùng đất đó nằm trên đất của Ukraina kéo dài tới tận gần biên giới Nga ngày nay, nơi có 20% người Nga sinh sống.
- Một vùng đất của Nga được Chruschov "tặng" cho Krim (Vì vụ việc này mà Chruschov bị Stalin khiển trách rất nặng nề) vào năm 1954, nơi đại đa số người Nga sinh sống và nhờ vào đó đã thuộc về Ukraina. 

Bản đồ cũ liên bang Nam tư
lie
Bản đồ hành chính

Bản đồ địa lí



Đây chính là nguyên nhân thứ nhất và là nguyên nhân chính gây chia rẽ Ukraina.

Nguyên nhân thứ hai cần phải kể tới, đó là việc sau khi đảng cộng sản tại Ukraina tan vỡ, đất nước đã chia thành nhiều mảng quyền lực khác nhau. Cũng có thể nói rằng Ukraina hiện nay được điều khiển bởi 8 tài phiệt từ 8 khu vực khác nhau, trong đó bao gồm cả bà Timoschenko cũng là một nhà tài phiệt, hiện đang ngồi trong tù.


Rinat Akhmetov
Tổng thống Janukowitsch nắm quyền hiện nay thực chất chỉ là người của Rinat Achmetow, trùm tài phiệt của khu vực Donezk. Rinat Achmetow mới là người có quyền lực cao nhất tại Ukraina hiện thời, tài sản trong tay ông ta có nhiều tỷ USD và người này có mối quan hệ làm ăn rất tốt với các nhà tài phiệt bên Nga. 

Qua đó cho thấy Ukraina không phải tranh chấp vì lý tưởng, vì kinh tế hay vì chính trị mà đơn thuần là cuộc tranh chấp quyền lực của các nhà tài phiệt. Giữa một bên là những nhà tài phiệt khu vực đất thuộc Áo và Hung cùng với khu vực thuộc Ba lan trước kia với bên kia những nhà tài phiệt khu vực Nga. Khu vực mà các nhà tài phiệt nắm ở khu vực đông Ukraina có nhiều công nghiệp nặng và bao gồm cả cơ sở vũ trụ từ thời Liên Xô. 


Trong quốc hội Ukraina, đại biểu từ vùng nào đều hưởng lương từ các nhà tài phiệt ở vùng đó. Tất nhiên cũng có một bộ phận rất nhỏ không chấp nhận cúi đầu làm việc cho các nhà tài phiệt nhưng ở con số rất nhỏ. Từ đó cho thấy sự đối đầu tại Ukraina đã được lập trình sẵn từ lâu, có mặt ở mọi chỗ, mọi nơi, đặc biệt ở nơi nào liên quan tới lợi nhuận của những nhà tài phiệt.


Chính vì thế cho dù sự can thiệp từ Nga hay từ EU cũng sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề mà chỉ có thể đẩy Ukraina vào một cuộc nội chiến đẫm máu.
Theo http://karelphung.blogspot.de/2014/02/su-that-cuoc-tranh-chap-tai-ukraina.html

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

LỜI KÊU GỌI KÝ TÊN ỦNG HỘ VIỆT NAM ỨNG CỬ VÀO HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC

Thưa các bạn, hàng ngày các bạn lên mạng Internet, các bạn sẽ thấy đầy rẫy thông tin của cá nhân này, nhóm kia giống như nhóm “Tuyên bố 258” đang nhân danh “Mạng lưới Blogger Việt Nam”, đấu tranh đòi “dân chủ, nhân quyền” cho nhân dân Việt Nam, lên án Đảng, Nhà nước đàn áp tự do ngôn luận, báo chí, người bất đồng chính kiến…Nhưng các bạn đã thấy họ làm gì vì lợi ích nhân dân Việt Nam chưa ?



Bất cứ khi nào Chính phủ Việt Nam tham gia cơ chế, hội nhập vào một tổ chức quốc tế nào như WTO, TPP, Hội Đồng Nhân quyền Liên hợp Quốc… họ đều phản đối kịch liệt với đủ thứ “cáo trạng” được đưa ra xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền để vận động quốc tế tẩy chay Việt Nam, cô lập đất nước, nhân dân Việt Nam.

Họ sử dụng một số người Việt Nam là những người vì một lý do nào đó không thỏa mãn với chính quyền làm “nhân chứng”, làm “hồ sơ nhân quyền” để vu cáo Chính phủ Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế, để vận động các Chính phủ, Quốc Hội một số nước, tổ chức quốc tế ra dự luật, nghị quyết phê phán Nhà nước Việt Nam, dành ngân sách hỗ trợ cho hoạt động “đấu tranh dân chủ, nhân quyền” của các cá nhân, tổ chức đó.

Họ được sự hậu thuẫn miệt mài của những cái gọi là “truyền thông quốc tế” như BBC, VOA, RFA, RFI…ngày ngày quảng bá “khách quan” một chiều về những hoạt động của họ dưới cái danh nghĩa phản ánh “phong trào đấu tranh dân chủ, nhân quyền Việt Nam”. Họ bày tỏ niềm vui không giới hạn, sự chiến thắng thỏa thuê nếu được chính khách Hoa Kỳ đề nghị xem xét đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC hay khi các quốc gia khác đưa yêu sách kiểu như đòi trả tự do cho những trường hợp (được nhận diện là người của họ) bị xử lý vì vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam như là điều kiện “thỏa hiệp”, trao đổi lợi ích song phương, đa phương!

Cũng giống như việc Chính phủ Việt Nam đang vận động các nước ủng hộ Việt Nam gia nhập TPP, việc ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là bước đi, quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta nhằm chứng tỏ chính sách hội nhập quốc tế, mở ra cơ hội phát triển kinh tế, xã hội, nâng tầm quốc gia, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, người dân được thụ hưởng các quyền lợi căn bản, sống trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Là những người dân thời đại Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, chúng ta hiểu sâu sắc giá trị của nền độc lập, hòa bình, sự ổn định để xây dựng, phát triển đất nước từ đống tro tàn lịch sử đau thương, khắc nghiệt. Việc Chính phủ Việt Nam thể hiện mong muốn trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc với cam kết quyết tâm thực hiện các mục tiêu thúc đẩy “tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và nhà nước pháp quyền, các quyền con người ở Việt Nam ngày càng được tăng cường”, “phấn đấu cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy việc hưởng thụ và bảo vệ nhân quyền cho nhân dân các nước” như khẳng định của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại phiên cấp cao khóa họp lần thứ 16 Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) ở Geneva (Thụy Sĩ) khi Việt Nam chính thức lần đầu tiên tuyên bố ứng cử thành viên tổ chức này nhiệm kỳ 2014-2016, là đáng được ủng hộ, khuyến khích từ chính nhân dân đất nước mình. Bởi những việc làm này đều nhằm hướng tới đem lại lợi ích thiết thực lâu dài, bền vững cho chính bạn, gia đình của bạn, cộng đồng dân tộc, đất nước Việt Nam của bạn.

Bởi vậy chúng tôi kêu gọi các bạn hãy thể hiện chính kiến ủng hộ Việt Nam ứng cử thành công vị trí thành viên Hội Đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, thể hiện sự quyết tâm đồng lòng giúp Chính phủ Việt Nam thực hiện các lộ trình cam kết về thúc đẩy quyền con người. Đồng thời qua việc làm này, chúng ta cất lên tiếng nói với bạn bè quốc tế tẩy chay một số ít cá nhân, tổ chức nhân danh “người Việt Nam”, núp dưới vỏ bọc “đấu tranh dân chủ, nhân quyền” phá hoại sự đoàn kết, thống nhất để xây dựng, phát triển đất nước.

Chữ ký xin điền vào mẫu http://tinyurl.com/unghovietnam với đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú và số điện thoại (Lưu ý số điện thoại chỉ dùng để thẩm định, kiểm chứng việc tự nguyện/danh tính ký tên là xác thực, không công khai). Hoặc chữ ký cũng có thể gửi về địa chỉ thư điện tử phanbactuyenbo258@gmail.com . Thời hạn ký tên từ 20h ngày 23/10/2013 đến 24h ngày 10/11/2013. Chúng tôi sẽ tập hợp danh sách này công khai trên các phương tiện truyền thông trong - ngoài nước, gửi đến Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.

Xin mời đọc bản Tuyên bố ủng hộ Việt Nam ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc bằng Tiếng Việt, tiếng Anh kèm theo :https://www.facebook.com/groups/1409586975936474/permalink/1420768154818356/

HỘI NHỮNG NGƯỜI PHẢN BÁC TUYÊN BỐ 258
Địa chỉ Blog http://phanbactuyenbo258.blogspot.com/
Địa chỉ Facebook 
https://www.facebook.com/groups/1409586975936474/
Địa chỉ thư điện tử: Phanbactuyenbo258@gmail.com

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Đất đai - đôi điều suy nghĩ

Đất là một thứ kì lạ ,nó không chỉ là một món tài sản ,cũng không phải là một công cụ lao động mà là một gì đó vô cùng quý giá và có nhiều ý nghĩa khác nhau ,nhất là với một quốc gia nông nghiệp .

Các đây mấy ngày ,tôi đã nói là đang cố gắng tìm hiểu về cải cách ruộng đất , đó không phải là một lời khoe khoang vô bổ ,nhưng càng đi sâu vào đất đai ,hỏi nhiều người trong ngành quản lí đất ( bạn tôi ) ,tiếp xúc nhiều hơn với những người nông dân , tôi lại nghĩ đất đai là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản , nó phúc tạp hơn rất nhiều . Vì vậy ,tôi không dám đưa ra bất cứ biện pháp giải quyết nào vào lúc này dù đã viết được kha khá ,tôi chỉ mạn phép đưa ra ý kiến của mình về đất đai ,mà ở đây là đất nông nghiệp .
Như mọi người đã biết , đất nông nghiệp chính là vấn đề có nhiều bức xúc nhất hiện nay ,ở địa phương ,việc tiền - đất chính là vấn đề nóng nhất ,có nhiều đơn kiện vượt cấp nhất , tranh chấp dân sự cũng thường xoay quanh đất . Tuy nhiên cho đến tận hôm nay ,tức ngày 22 tháng 10 năm 2013 ,dự thảo đất đai vẫn ghi rõ :
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.
Vì vậy tôi vấn đề này có lẽ vẫn tiếp tục xoay quanh đất - người dân- nhà nước .
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp ,cho dù nước chúng ta có đạt mục tiêu năm 2020 cơ bản là nước công nghiệp theo hướng hiện đại đi chăng nữa thì nước chúng ta ở thế hệ này vẫn mãi là nước nông nghiệp ,nông nghiệp ở trong lối sống ,cách nghĩ và trong thái độ với sở hữu và sử dụng đất . Việt Nam đã đạt khá thành công trong lĩnh vực công nghiệp hóa , nền công nghiệp mà trước hết là công nghiệp nhẹ đã đến từng vùng hẻo lãnh ở đồng bằng bắc bộ này ,tỉ lệ công nhân rất cao , tuy nhiên khi quan sát và hỏi tình hình thì chính những người công nhân ấy không ai bỏ canh tác và thu hoạch lúa ,họ sẵn sàng thức khuya ,dậy sớm hơn ,kể cả bị trừ lương ,thưởng để thu hoạch cho xong mùa màng. Tuy nhiên nếu bắt họ sống chất với nông nghiệp thì không thể vì nó không đem lại cuộc sống cho họ  . Điều đó cho thấy : người dân hiện nay vẫn chưa thể bỏ nông nghiệp ra khỏi lối suy nghĩ  và tập quán của mình vì vạy bàn về vấn đề đất nông nghiệp luôn luôn cần thiết .

Đất đai đang bị hoang hóa
Hiện nay ,đất nông nghiệp đang phải chịu thách thức thu hẹp bởi gia tằng dân số và CNH ,cái này ai cũng biết ,ai cũng hiểu vì nó ghi đầy trong sách giáo khoa rồi . Tuy nhiên không ai nhận ra đất nông nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với hiện tượng hoang hóa nghiêm trọng nhất từ trước đến nay . CÓ lẽ mọi người thấy tôi điên khùng ,những người nông dân sẽ bổ cuốc vào mặt tôi ,tuy nhiên điều trên là sự thật . Hiện tượng người dân di cư tự do ra thành phố làm việc đã làm thiếu hụt nguồn lao động nông nghiệp , hiện nay nhiều vùng nông thôn ở ĐBBB đã xuất hiện hiện tượng này khi giới trẻ đã mất dần suy nghĩ nông nghiệp ,nhiều người thuôc thế hệ 8 X đã hoàn toàn bỏ quên nông nghiệp trong nhịp sống sinh hoạt của mình . Và hệ quả của điều đó là có nhiều mảnh đất đã trở lên hoang hóa , không phải là không canh tác mà không canh tác cho đúng với giá trị mà nó có thể đem lại . Khi về tìm hiểu ở những vùng nông nghiệp như Hưng Yên tôi nhận ra đất đai của một số huyện gữa tỉnh giáp với sông Hồng hoàn toàn có thể phát triển một số cây trồng có giá trị cao như vùng phía bắc tỉnh ,nhưng họ vẫn cứ chỉ độc canh cây nhãn và lúa , đơn giản vì không có đủ nguồn lao động đẻ thực hiện điều đó , lao động đơn thuần và lao động có đủ trình độ - giới trẻ .Vấn đề này cũng đang dần xuất hiện phổ biến ở Thái Bình - nơi từng nổi tiếng với chị 2 năm tấn ,tình trạng đất đai độc anh cây lúa không xứng đáng với tiềm năng này xuất hiện ngày càng nhiều . Chính vì vậy mà dân số ở những vùng trên vẫn cứ nghèo trong khi đất đai thì vẫn như cũ ,thậm chí còn đạt năng suất và giá trị thấp hơn .Đất đai không thể nuôi sống con người càng làm cho người dân bỏ quê đi làm ăn , vòng luẩn quẩn đang dần tạo thành và ngày càng lớn hơn .


Việc phân chia đất đai hiện nay đang bị bất bình đẳng 
Thực vậy , khi tìm hiểu kĩ hơn về đất nông nghiệp cộng với sự chỉ bảo của một số người công tác ở cơ sở ,cũng như ấn tượng về một phóng sự trên VTV1 cách đây khá lâu về việc : người chết vẫn có ruộng . Tôi nhận ra rằng đất đai của chúng ta đang chia bất bình đẳng . Hiện nay ở một số xã xuất có hiện tượng nhiều người đã chuyển nơi cư trú ,cũng như thoát li lao động nhưng vẫn không bỏ ruộng mà cho người khác thuê lại để canh tác để lấy thóc ăn (khá phổ biến " , trong khi đó có nhiều ộ gia đình muốn làm kinh tế ,càn tập trung đất với quy mô lớn lại phải bỏ ra khá nhiều tiền để thuê lại đất . Nếu cứ tiếp tục hiện tượng này ,đất đai không được tái chia công bằng ,thì việc này sẽ cuất hiện nhiều hơn nữa ,ở nhiều địa phương khác nhau ,gây cản trở đến việc chuyển đổi đất từ độc canh cây lúa sang trồng cây có giá trị kinh tế cao hơn .

Việc chuyển đổi trái phép - mua bán đất nông nghiệp diễn ra rộng khắp
Việc bán đất nông nghiệp đang diễn ra một cách nhức nhối ,hoạt động này diễn ra từ khá lâu và trở lên rộng khắp vào năm 2008 (?) với suy nghĩ bán rồi vẫn được chia lại vào năm 2003 (?) . Người mua cũng nhiều hơn ,nhất là những người mua với mục đích tách hộ hay bám vào mặt đường để buôn bán nhiều hơn . Hiển nhiên Nhà Nước đã thất thu khoản thuế lớn này ,mất từ thuế giao dịch đất đai đến cả việc thuế sở hữu đất ( vì đất trong sổ là đất NN được miễn thuế ) . Tuy nhiên việc không chia lại đất nông nghiệp đã làm cho những người bán đất với giá rẻ mất đi lợi ích ,còn những hộ gia đình mua đất ruộng thì tiến hành xây dựng nhà một cách kiên cố bất chấp những hình thức xử phạt của chính quyền , nhiều nhà bị đạp đi vẫn cố gắng xây lại , kiên quyết chống cự .


Đó là 3 suy nghĩ của tôi về vấn đề đất đai ,tất nhiên đó chỉ là suy nghĩ của dân ngoại đạo vì bản thân gia đình vốn là công nhân và ngành học cũng không liên quan đến đất . Tuy nhiên , vói tư cách là một công dân ,tôi cảm thấy cần thiết phải thực hiện những cải cách cần thiết trong lĩnh vực đất đai ,thậm chí là phải mạnh tay thực hiện một cải cách đất đai một lần nữa để thổi một nguồn gió mới vào lĩnh vực nông nghiệp ,không thể để cho nó ngày càng suy thoái về chính sách như hiện nay . Tôi đem suy nghĩ này đi hỏi một chuyên gia về quản lí đất .
Khi hỏi người bạn của mình , một người đất đai thực sự , ông ta đã nói : " Linh à ,thực ra việc này của chúng ta chỉ là một ngón chân của Trung Quốc hiện nay , việc hoang hóa đất đai mà cậu đề cập đến mới chỉ dừng ở việc đất đai không thực hiện đúng tiềm năng còn ở TQ thì nhiều vùng đã có hoang hóa thực sự , nhất là ở vùng nội địa khi người lao động bỏ đi ra vùng duyên hải để làm ăn , Khi đó ở một số vùng ở Trung Quốc tiến hành thí điểm lấy đất nông nghiệp đó thu hồi lại , tái quy hoạch những vùng kém hiệu quả rồi cho cá nhân cần thuê lại để sử dụng trong thời gian dài , cái này ở Việt Nam làm nhiều ,nhưng càng làm thì càng biến tướng , chắc rồi bộ NN và PTNT sẽ tiến hành việc này trong chiến lược nông thôn mới ".
Suy nghĩ đến đất nông nghiệp kết thúc ở đấy ,tuy nhiên tôi vẫn sẽ không bỏ cuộc với đất đai , tiếp theo có lẽ tôi sẽ tập trung thực sự vào Đất Đai -vấn đề hiện đang rất nóng này .
Nguyễn Linh

Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

Tại sao Đảng cầm quyền và điều 4 tồn tại ?!!

Sau đây là quan điểm cá nhân của tôi trong việc lí giải những điều trên ,trong lúc viết bài tôi đã sử dụng một số quan điểm của nhiều người khác nhau về nhiều mặt của vấn đề .

Thực ra đây là một vấn đề mà ai cũng biết ,chỉ cần tìm kiếm trên mạng một lúc là ra ,tuy nhiên nhiều người không chịu tìm kiếm mà thường chỉ tự lí giải ,từ đó họ thường hiểu nhầm như tôi đã hiểu nhầm rằng hạnh động chống tả khuynh của những người cộng sản đã và đang tiến hành ở các quốc gia XHCN thể hiện thái độ hướng đến trung lập hóa ,Đảng cầm quyền không còn là đại diện của giai cấp công nhân ,không còn là một đảng cánh tả như những đảng cánh tả Cộng Sản khác đang hoạt động trên khắp thế giới . Chính từ nhận thức đó ,cùng với những luận điệu phản động mà thế lực ngoại bang cố tình chống lưng ở bên ngoài ra ra sức tuyên truyền tách Đảng ra khỏi liên minh Công -Nông vĩ đại ,tạc Đảng ra khỏi quần chúng lao động , làm nhân dân lao động mất niềm tin vào Đảng ,phá hoại chính danh mà Đảng có .
Đây là một âm mưu thâm hiểm ,chúng không chủ ra trực tiếp mà từ từ ,cộng thêm hàng loạt hoạt động đánh tráo khái niệm để tiến hành ,hành động này tuy không rõ ràng như những hoạt động khủng bố , không trực tiếp bôi nhọ như những hoạt động tuyên truyền khác ,nhưng chúng lại nguy hại hơn bất cứ thứ gì khác bởi lẽ nó có thể tuyên truyền công khai ,nhất là trong hoạt động phúc tạp hiện nay .

Bác Hồ- lãnh tụ thiên tài của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từng nói :" Tôi chỉ có 1 Đảng - Đảng Việt Nam " . Có lẽ đây chính là câu nói ấn tượng nhất ,cũng chính là kim chỉ nam của mọi người Cộng Sản chân chính ở Việt Nam để cống hiến nhiều nhất cho nhân dân Việt Nam.
Tuy nhiên chính câu nói này lại được những kẻ phản động ,ở đây tôi nói đến là thành phần phản động thực thụ ,dùng để tuyền truyền ,hoặc để chỉ ra Đảng ta không có chính danh vì Đảng tuyên bố chỉ đại diện cho 1 nhóm người từ đó chỉ ra Đảng ta hiện nay không vì nhân dân Việt Nam , Đất nước Việt Nam ,một số người khác thì nói Đảng ta không còn đại diện cho nhân dân lao động nữa mà là đại diện cho đất nước Việt Nam ,vì vậy phải đưa toàn dân vào và ra luật về Đảng .
Theo quan điểm của tôi thì những luận điệu trên của kẻ thùi luôn luôn chỉ là những gì ngụy biện ,chúng chỉ có âm mưu phá hoại ,tuy nhiên nhiều người lại không nhận thức được điều đó ,họ hùa theo,họ tung hê và tranh luận .
Có lẽ mọi người không biết chưa bao giờ cương lĩnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ trái ngược lại với tuyên bố của Bác , và đó cũng là lí do mà Đảng cầm quyền . Đảng Cộng Sản Việt Nam là tiên phong của giai cấp công nhân ,là đại diện cho liên minh Công -Nông vĩ đại , Đảng có sự ủng hộ của đội nghĩ trí thức mới -trí xã hội chủ nghĩa vừa hồng vừa chuyên xuất thân từ liên minh trên . Đảng lãnh đạo đội ngũ quân đội nhân dân kiểu mới trung thành với giai cấp và xuất thân giai cấp . Vì vậy ,Đảng nắm quyền .
Nếu nhìn nhận theo kiểu các quốc gia tư bản ,Đảng là đại diện của liên minh Công - Nông -Trí thức , tức Đảng là đại diện hợp pháp và nhận được sự ủng hộ của họ ,vậy Đảng đã nhận được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam ,sự cầm quyền của Đảng hiển nhiên là tất yếu và không thể tránh khỏi .
HƠn nữa ,nếu nhìn nhận theo quan điểm của Việt Nam , quan điểm của tổ quốc này thì những người Cộng Sản còn là những người đã chiến đấu để tiến hành giải phóng dân tộc này , đưa dân tộc này được độc lập tự do , quá trình đó rất gian khổ ,khó khăn ,tuy nhiên họ vẫn lãnh đạo dân ta giành thắng lợi ,vì vậy , việc họ cầm quyền là tất yếu khi mà chính họ đã được tôi luyện qua lò lửa khó khăn mà vẫn giữ nguyên tinh thần vì dân tộc này ,họ xứng đáng để tin tưởng ,và xứng đáng để nhân dân giao phó nhiệm vụ cao cả nhất này .

Tại sao điều 4 hiến pháp lại ra đời ,nếu như Đảng là đại diện của tuyệt đại đa số nhân dân thì Đảng đâu cần phải tạo ra điều 4 hiến pháp để khẳng định sự cầm quyền đó .
Theo tôi ,đây chỉ là quan điểm kém cỏi của tôi ,điều 4 hiến pháp ra đời luôn luôn có ý nghĩa lịch sử tạo thành và luôn có giá trị thời đại để tiếp tục . Trước khi Đảng cầm quyền chuyên chế vô sản , nước chúng ta đã có một thời gian thành một quốc gia đa đảng . Tuy việc đa đảng này là không có chính danh vì những đảng viên các đảng phái khác ngoài ĐCS được vào quốc hội mà không do nhân dân bàu ra ( những đai biểu đảng phái này không được nhân dân cả nước tín nhiệm ) , tuy nhiên chính trong giờ phút tổ quốc lâm nguy ,những đảng phái này đã bỏ chạy ,người thì chạy theo Tàu tưởng ,người thì chạy về với Pháp làm nguy hại trực tiếp đến quyền lợi của tỏ quốc Việt Nam . Chính thực tiễn lịch sử ấy chứng tỏ cho chúng ta thấy chỉ có chuyên chế vô sản mới có thể đem lại lợi ích lớn nhất cho quần chúng nhân dân lao động ( chiếm tuyệt đại đa số nhân dân ) và đem lại lợi ích cho đất nước Việt Nam .
Hơn nữa ,chúng ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội , công việc quá độ này sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn chống phá ,chính vì vậy , việc thực hiện chuyên chế vô sản ,thực hiện kiên định một Đảng cầm quyền chính là cách duy nhất khiến chúng ta thành công vượt qua quá độ !
Có quan điểm chống phá cho rằng việc một Đảng lãnh đạo là không có dân chủ . Vậy chúng ta cần hiểu dân chủ là gì ,chính là nhân dân làm chủ . Vậy quan điểm của Đảng luôn là : dân biết  ,dân bàn ,dân làm ,.dân kiểm tra ,nhân dân luôn luôn là chủ thể của chế độ ,vậy đó có phải là nhân dân không có quyền hay không ? Nếu nhân dân có quyền quyết định tất cả vậy sao không nói nhân dân không phải là chủ ???
Nhiều người cho rằng nên ra luật về Đảng để khống chế Đảng ,theo tôi đây chính là một hành động chống phá . Đảng ,nói cho cùng là một đảng phái ,khống chế đảng viên của mình thông qua điều lệ đảng ,vậy có nhất thiết phải ra một đạo luật để khống chế đảng viên nữa không ??? nếu ra luật thêm để khống chế Đảng viên thì thế nào khi chính những đảng viên ,trước khi trở thành tinh anh của giai cấp công- nông -trí thức đều đã là công dân Việt Nam ,phải chịu mọi sự khống chế của pháp luật rồi . Nếu nói đây là một luật thừa thi theo tôi không phải ,phải nói đây là một âm mưu thì đúng hơn . ta vốn biết quyền lực lãnh đạo chính quyền thông qua đội ngũ đảng viên cảu mình trong bộ máy nhà nước . Nếu ra luật về Đảng chính là khống chế quyền lực đó ,có 2 âm mưu tạo ra ,hoặc họ hi vọng thông qua luật này để làm giảm bớt quyền lực mà nhân dân giao phó cho các đồng chí đảng viên đang hoạt động trong bộ máy nhà nước ,cuối cùng là triệt tiêu sự lãnh đạo của Đảng mà không phá hủy đi Đảng ,đó chính là âm mưu rút cuur đáy nồi . Nếu như quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân thực hiện đúng theo nguyện ước của nhân dân là ủng hộ Đảng nhưng vẫn ra luật về đảng ,vậy thì làm cho người ta nhầm tưởng Đảng là một cơ quan quyền lực thuộc về nhà nước ,điều này đã tách đảng ra khỏi quần chúng nhân dân , làm cho quần chúng hiểu nhầm về vai trò của Đảng vốn đã được tín nhiệm giao nhiệm vụ lãnh đạo chính quyền :" có bao giờ một cơ quan nhà nước có thể lãnh đạo nhà nước ,có bao giờ dao gọt được chuôi ???" . Vậy thì hiểu theo mức nào thì việc ra luật hay đề xuất luật đều là những kẻ có vấn đề về tư tưởng ,đi ngược lại với lợi ích tất yếu của nhân dân lao động Việt Nam.
Điều 4 và sự cầm quyền cảu Đảng là tất yếu khách quan không gì ngoài mục đích cao nhất là phụng sự nhân dân Việt Nam vì vậy sự tồn tại đó luôn luôn có chính danh và được nhân dân ủng hộ ,mọi hoạt động chống lại hay phá bỏ điều đó đều là một âm mưu chống lại đất nước ,chống lại tổ quốc này ,những kẻ chống phá đều là những kẻ tay sai ngoại bang hay cơ hội chính trị ,thậm chí là những kẻ thoái hóa biến chất trong Đảng .
Nguyễn Linh

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Chúng ta đang bị báo chí dắt mũi !!!

Không biết các bạn có hay đọc báo giấy không chứ tôi thì luôn luôn ,tôi đã từng chỉ đọc báo mạng ,đặc biệt chỉ thích mấy trang báo mang tính giật gân câu khách như V hay L và D ,tuy nhiên thỉnh thoảng cũng đọc báo N và Q ,đơn giản là vì đọc ở mấy trang lá cải kia thì rất nhiều thố tin hay ,hấp dẫn về nhiều chủ đề nóng như tưng hay Hưng . Tuy nhiên có một ngày khi đang đợi xe bus thì tôi nghe thấy một tiếng rao mua báo :
Ai báo an ninh thủ đô ,báo cảnh sát toàn cầu(???) ,báo pháp luật đi .... hôm nay có vụ X y Z ở ABC đang thu hút sự chú ý của mọi người mua đi mua đi ...
Thấy vậy tôi liền dừng lại ,nhìn người bán báo còn trẻ măng ấy ,tôi buột miệng :"Cho một tờ báo ngày Nhân Dân đi cháu " . Và người bán hàng nhìn tôi lạ lẫm :"không có báo nhân dân dâu ,báo Hà Nội mới còn lại mấy tờ đây ,nhưng không nhiều ti hot đâu ,chú đọc mấy tờ Pháp Luật này ,hôm nay có vụ A này hay lắm ".

Và tôi đã miên man nghĩ về cha tôi ,về những người thuộc thế hệ đã tạo ra đất nước Việt Nam này ,cha tôi ở quê chắc hẳn vẫn đang đọc báo sau khi xem phần đầu Chào Buổi Sáng , có lẽ ông khó mà thích ứng nổi ở đất Thủ đo này khi mà ở đây không có báo Nhân Dân ,không có những tờ báo có giá trị cao ,đưa tin chính xác và đúng đắn ấy ,tôi nhớ đến tờ báo tỉnh tôi một tờ báo ngày khổ lớn chỉ có mấy mặt giấy lớn mà ngày ngày cha tôi vẫn xếp cẩn thận sau khi đọc kĩ từng mục ,tôi cũng nghĩ đến những người mà tôi gặp trên con đường đi Sơn La ,,không có laptop ,không Smartphone và It tuy đã đến nhờ sóng Viettel nhưng vẫn còn rất yếu , thế nhưng họ biết rõ ràng từng chút một thứ gì đang diễn ra trên nền chính trị xã hội Việt Nam ,biết được hôm ấy có nguyên thủ nào đến ,lãnh đạo chúng ta đi thi sát tỉnh nào ,biết được địa phương A B C nào đó nó ra sao . Tôi khâm phục những người ấy ,nhưng tôi không lạ ,tất cả những điều đó nói rõ trên VTV1 ,VOV1 ,trên Nhân Dân và kể cả trên tờ Biên Phòng mà họ thường được cho .
Tôi đã từng cảm thấy tội nghiệp cho họ ,tôi đã từng cảm thấy tội nghiệp cho những con người đang bị "mù " thông tin ấy ,những con người mà ngay cả đến Huyền Anh ,Phương Trinh ,Ngọc Trinh là gì cũng không biết ,không biết đến được hôm nay ở vùng nào có người bị giết ,bị "hại đời " ,có đưa trẻ nào "bị " mà được những tay báo mạng chúng ta miêu tả vốn rất kĩ " .

Thế nhưng càng sống trong mội trường tràn ngập báo trí ,V ,D ,L T ,TT đang bao vây dòng thông tin ,tôi lại cảm thấy sững sờ trước sự hiểu biết của cha tôi ,người chỉ biết đọc báo Nhân Dân ,chỉ biết cầm tờ báo khổ to mà đọc . Tôi khâm phục sự phân tích của ông về tình hình biển đông ,tôi khâm phục sự hiểu biết của tôi về cùng miền ,về vụ chôn thuốc ở Thanh Hóa ,về việc tại sao tết rồi gà trung quốc b\ít đi ,tại sao và tại sao .. Những thứ mà kể cả khi tôi ngày ngày lần mò trong đủ mọi dòng thông tin mà không thể nhận thứ rõ ràng thấu triệt đến như vậy .
Và tôi bàng hoàng nhận ra rằng ,chính IT ,chính thế giới thông tin đầy tràn kia ,chính chiếc điện thoại Galaxy mà tôi liên tục thay đời và những gì như nó ,chính những thứ đó đã làm tôi hỗn loạn về nhận thức ,hiến tôi không thể hay chưa thể dừng lại để suy nghĩ một chút :"thứ gì đang diễn ra quanh mình " . Tôi cần gì phải biết cái bà siêu sao ở nơi kia có mấy sợi tóc bạc ,tôi cần gì phải biết đến số đo 3 vòng của bà tưng ,tôi cần gì phải biết hôm nay ở đâu đó có ai bị giết ,bị hại ... tôi chỉ cần biết đất nước tôi như thế nào ,chỉ cần biết những gì thuộc về đất nước tôi ,hay hẹp hon là quê hương tôi ,những người như tôi ,tôi chỉ cần biết chúng ,biết những thứ nhỏ nhặt đó thôi .
Hơn nữa ,chính những thứ như IT đã thui chột suy nghĩ của bản thân ,tôi đọc và không thể hiểu ,không thể liên hệ ,không biết gì hết ngoài đọc và biết ,tôi chưa từng "suy nghĩ " ,gặp những vấn đề đọc trên báo tôi không hiểu ,tôi chỉ cần tìm đủ mọi tờ báo để biết nó là gì ,vô hình chung tôi không tự nhận thức nữa.
Và rồi tôi đã quay trỏ lại với những thứ quen thuộc hơn ,những trang Nhân Dân ,Quân Dội Nhân Dân ,An Ninh Nhân Dân ,Xây Dựng Đảng ,Cộng Sản ,tất nhiên vẫn trên mạng . Tôi đọc ,và chính chúng cho tôi những thứ để tôi suy nghĩ ,tôi đã lại có thể làm chủ thông tin và nhận thức nó ,tôi đã học được từ nó . Tôi đã quen những bài viết với cái tiêu đề bình dị ,những câu chữ rõ nghĩ ,lời văn rõ ràng chứ không đơn thuần chỉ là giật tít và dán ảnh .
Và giờ ,tôi có thể tự hào ,tôi không còn bị lũ báo chí kia dắt mũi nữa ,tôi đã tự làm chủ con đường của mình .Và hôm nay khi đi ra bến xe để vè quê ,tôi lại cảm thấy vui vẻ khi thấy bên sạp báo ,tờ báo ngày thứ 6 Nhân Dân đang ở trên hàng sách . Vớ vội ,trả tiền ,đọc ,biết ,và nghĩ ,đó có lẽ là thứ mà một người đọc báo cần ..
Thân tặng cho một người bạn mà tôi tuy chưa tiếp xúc nhiều ,cũng chỉ mới gặp mặt một lần , có lẽ đấy chính là những suy nghĩ hiện giờ đầu tiên của tôi vè báo chí - Người đọc báo . Phần tiếp theo ,có lẽ tôi sẽ viết về nhà báo .
Nguyễn Linh 

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

Những luận điểm sai lầm trong mưu toan phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng



Càng đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước càng phải xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh toàn diện và chúng ta càng phải nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là con đường phát triển tất yếu của đất nước, của dân tộc trên lộ trình xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác, đi ngược lại điều đó, chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại không tránh khỏi!


Những lầm lẫn, mơ tưởng và cổ xúy...
Khép lại thế kỷ XX, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cách mạng nước ta đã thu được những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử trọng đại trên bình diện dân tộc và quốc tế, không ai và không gì có thể phủ nhận nổi. Dư luận quốc tế đánh giá: “Những thành tựu trong việc cụ thể hóa một con đường thích hợp quá độ lên chủ nghĩa xã hội không chỉ là tài sản vô giá của những người cộng sản Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng và tin tưởng đối với những người cộng sản và cách mạng trên toàn thế giới”, “khẳng định một cách vững chắc tiềm năng vĩ đại và sinh động của chế độ xã hội chủ nghĩa...; đồng thời là một tấm gương và kinh nghiệm quý giá đối với các nước chậm phát triển trong việc lựa chọn con đường tiến tới phồn vinh”; và tự nó “có ý nghĩa quốc tế, có tầm quan trọng lịch sử ở mức độ góp phần quyết định tương lai của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới”. Nguồn gốc của tất cả những thành quả đó “...chứng tỏ hùng hồn khả năng của Đảng các đồng chí trong việc xử lý những đổi thay ở trong nước, trong khu vực và trên thế giới, đồng thời giữ gìn bản sắc cách mạng cả về thực tiễn và lý luận”...
Song, chính ở thời điểm nhạy cảm này, khi chúng ta chuẩn bị nhìn lại nửa nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng, và khi toàn Đảng, toàn dân ta và kiều bào ta ở nước ngoài dân chủ góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, lợi dụng những hạn chế, khiếm khuyết của chúng ta, hơn nữa trước những diễn biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế giới và khu vực đang tác động rất mạnh và sâu vào tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ và niềm tin của cán bộ, đảng viên, các thế lực chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tiếp tục tấn công điên cuồng và hiểm độc vào Đảng ta, mưu toan bôi nhọ sự lãnh đạo của Đảng, từ đó nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhưng, khác với các lần trước, ở thời khắc này, họ ráo riết xuyên tạc, tập trung ngón đòn phủ định không chỉ ở những vấn đề chi tiết, cụ thể của Đảng ta mà tiếp tục rắp mưu thâm độc công phá vào rất nhiều vấn đề hết sức cơ bản, quan trọng, liên quan trực tiếp đến nền tảng tư tưởng lý luận, vận mệnh học thuyết mác-xít về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.
Người ta cho rằng, sau 27 năm đổi mới, cơ cấu xã hội Việt Nam đã thay đổi, do đó, cơ cấu giai cấp công nhân cũng thay đổi theo và ngày một “teo đi”, “tính chất giai cấp công nhân vì thế không còn nữa”(!). Người ta “khuyên răn”: Đảng phải “thay đổi tính chất giai cấp công nhân của mình đi; nếu cứ khư khư giữ tính chất này, nhất định Đảng sẽ bị cô lập, khép kín”(!). Mặt khác, người ta cố lập luận rằng, trong nền kinh tế thị trường, “vấn đề tính đảng không còn ý nghĩa gì nữa”, “không cần tính đảng nữa”. Và vì thế, “không cần tới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nữa” (!)… Nói tóm lại, theo họ, Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ bản chất giai cấp công nhân của mình đi; trong nền kinh tế thị trường, không cần tới sự lãnh đạo của Đảng theo kiểu đó nữa; thậm chí họ huỵch toẹt: Đảng phải hạ ngọn cờ lãnh đạo đất nước xuống (!).
Đường đã rõ, “... trăng cứ sáng và  đoàn người vẫn cứ  đi”
Sau 27 năm đổi mới toàn diện, trong sự chuyển động toàn diện và sâu sắc ấy của đất nước, cơ cấu xã hội - giai cấp cũng thay đổi đã in dấu ấn đậm nét lên sự thay đổi của giai cấp công nhân Việt Nam. Hơn nữa, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cả về quy mô, tính chất và chiều sâu đã làm xuất hiện nhiều bộ phận lao động mới trong cơ cấu lao động xã hội. Nhất là, trong các ngành sản xuất do công nghệ mới đem lại đã làm thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc trạng thái và tính chất lao động của công nhân. Sự biến đổi đa chiều và đan xen lẫn nhau của cơ cấu xã hội - giai cấp và ngay trong cơ cấu của giai cấp công nhân, nhất là sự xuất hiện ngày càng tăng bộ phận công nhân “trí thức hóa”, sự đa dạng của các bộ phận công nhân khu vực nhà nước và ở các thành phần kinh tế khác, ranh giới giữa công nhân nông nghiệp với công nhân công nghiệp mờ dần... tất cả đã tạo nên một dung mạo mới và khuynh hướng phát triển với chất lượng mới của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Và, chính đây là vấn đề đã khiến cho những ai đó hoặc lóa mắt hoặc khiếm thị hoặc chỉ thấy bề mặt của hiện tượng ấy rồi chệnh choạng, và cho rằng, “cơ cấu của giai cấp công nhân thay đổi đã làm cho tính chất của nó không còn nữa”, do đó, đã làm cho “tính chất giai cấp công nhân của Đảng cũng thay đổi và không cần thiết nữa” (!).  
Chắc chắn mấy ai đó đều thừa hiểu một điều sơ giản là, vấn đề căn bản có tính quyết định sự khác biệt giữa đảng cộng sản chân chính khác với tất cả các chính đảng khác ở chỗ, nó mang bản chất giai cấp công nhân cách mạng, và mục tiêu tranh đấu tối cao của nó là, không ngừng đại đoàn kết đấu tranh nhằm giải phóng toàn thể nhân loại cần lao. Đây chính là bản chất của nó, là nguyên tắc bất di bất dịch đối với nó, là cương lĩnh hành động chính trị không hề giấu giếm của các đảng cộng sản và công nhân chân chính, khi nó mới ra đời, tồn tại, phát triển trong sự nghiệp tranh đấu không mệt mỏi vì lợi ích và công cuộc giải phóng của chính giai cấp công nhân cũng như toàn thể người lao động. 
Ngay từ buổi lọt lòng lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mang trong mình dòng máu ấy như lẽ tự nhiên, như quy luật phát sinh, phát triển được kết tinh thành sứ mệnh cao cả và thiêng liêng mà lịch sử dân tộc và nhân dân ta giao phó: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chính điều căn bản này, qua trường kỳ cách mạng, đã tôi luyện, hun đúc nên bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, khả năng và sức mạnh chiến đấu mạnh mẽ không ngừng, là ngọn nguồn làm cho Đảng ta thực sự trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Lịch sử cách mạng nước ta, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đã chứng minh lý tưởng và khát vọng chiến đấu không mệt mỏi của Đảng trước toàn thể nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế. Điều đó hoàn toàn đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đảng ta là đứa con nòi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta. Và hơn 83 năm qua, Đảng vẫn đứng vững trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong vị thế là “đứa con nòi” một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Tối thiểu những điều đó cắt nghĩa vì sao, năm 1930, thuở Đảng ta vừa mới sinh thành trong cái nôi dân tộc có cơ cấu xã hội tới 95% số dân là nông dân, trong lúc giai cấp công nhân rất nhỏ bé, khoảng 22 vạn người, mà vẫn thực sự là một đảng của giai cấp công nhân chứ không phải là đảng của một giai cấp hay giai tầng nào khác đông đảo dù gấp trăm lần giai cấp công nhân. Vậy, thử hỏi, cơ cấu xã hội - giai cấp ở đây có nói lên điều gì quyết định không? Rõ ràng, không. Đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân - tức Đảng Cộng sản Việt Nam không vì thế thay đổi bản chất giai cấp của mình, khi Đảng đứng vững trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn nguyện và sự thật là “đứa con nòi của nhân dân lao động”, sống và chiến đấu trong lòng dân tộc, mà bất cứ ai cũng đều thấy. An-đrê Xau-va-rốt, cựu đại tá quân đội Mỹ, hiện là Giám đốc Phát triển kinh doanh Việt - Mỹ của Tập đoàn tư vấn Ma-ven-tút tại Việt Nam, đã thốt lên rằng: “Nếu biết Việt Nam trước chiến tranh, tôi chắc chắn sẽ đi theo cách mạng”.
Chỉ nhìn hẹp trong 27 năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân không hề nhỏ bé đi, mà ngày càng phát triển không ngừng về số lượng theo quy mô, tốc độ ngày càng tăng và tính chất ngày càng sâu sắc của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, toàn bộ đội ngũ giai cấp công nhân Việt Nam có hơn 11,5 triệu người, gấp hơn 160 lần so với năm 1930; và xét về tỷ lệ cơ cấu xã hội - giai cấp, nếu năm 1930 giai cấp công nhân chiếm chưa đầy 1% số dân đương thời, thì năm 2012, tỷ lệ đó là hơn 12%. Về Đảng - đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam - nếu ngày 3-2-1930, toàn Đảng chỉ có 211 đảng viên thì đến nay, Đảng ta có 3,7 triệu đảng viên, gấp 14.220 lần năm 1930. Và, chất lượng đội ngũ giai cấp công nhân nói chung, chất lượng đảng viên nói riêng, ngày càng được nâng cao trong tiến trình của công cuộc đổi mới đất nước theo hướng trí thức hóa công nhân, đến mức những người vốn thiếu thiện ý nhất đối với chúng ta cũng phải thừa nhận. Và điều quan trọng bậc nhất là, giai cấp công nhân được tổ chức hết sức chặt chẽ, thông qua các tổ chức của giai cấp công nhân, ở tất cả các thành phần kinh tế của đất nước, mà họ có mặt; ở tất cả các địa bàn đất nước và ở ngoài nước, được tập hợp thông qua các tổ chức của giai cấp công nhân, dưới ngọn cờ của đội tiền phong của chính nó, chứ không phải là sự tồn tại cục bộ, rời rạc theo kiểu tập hợp cơ học những “vô sản lưu manh”, những “công đoàn vàng” đã từng tồn tại ở nước này hay nước khác. Vậy là, vấn đề lượng hóa trong cơ cấu giai cấp - xã hội chung quanh giai cấp công nhân mà ai đó muốn tranh thảo, rõ ràng, không còn gì để bàn thêm.
Hơn nữa, tính tiên phong lãnh đạo trở thành đặc trưng của giai cấp công nhân Việt Nam được thể hiện tập trung ở đội tham mưu chiến đấu của nó là Đảng Cộng sản luôn không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn mình nhằm vươn lên ngang tầm công cuộc đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đến lượt nó, giai cấp công nhân Việt Nam chủ động tôi luyện mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dưới ngọn cờ của Đảng, qua đó lớn mạnh, và sự thật đã lớn mạnh vượt bậc và toàn diện. Và điều quan trọng nhất là, chưa khi nào chúng ta cả trong nhận thức lẫn hành động tỏ ra mơ hồ hay “lẫn lộn Đảng tức đội tiền phong của giai cấp công nhân với toàn bộ giai cấp”, như V.I. Lê-nin chỉ giáo. Nói cách khác, ai “lẫn lộn” về điều sơ giản đó, thì quả là một điều thảm hại. Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Đó là điều không một đảng phái nào khác trong lịch sử Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể gánh vác nổi. Nhớ lại lịch sử, vào những năm 30 của thế kỷ XX, ở Việt Nam, có hàng loạt tổ chức đảng phái chính trị ra đời, như Hội Phục Việt (năm 1925),  Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927)... với rất nhiều cương lĩnh chính trị, nhằm bước lên chiếm lĩnh vũ đài lịch sử nhưng tất cả đều bị hạn chế bởi quan điểm của giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản… nên khó thu phục được dân chúng, nên tất cả những ngọn cờ chính trị do họ giương lên đã nhanh chóng bị hạ xuống ngoài ý muốn của chính họ. Sứ mệnh lịch sử Việt Nam đã tin cậy trao trọn vẹn trọng trách lãnh đạo đất nước cho Đảng ta - “một đảng đại biểu cho vô sản giai cấp, một đảng duy nhất có thể giải quyết được các vấn đề quan hệ đến vô sản giai cấp, một đảng để lãnh đạo cho tất cả công cuộc cách mạng ở Việt Nam”.
Và, trên thực tế, suốt hơn 83 năm phấn đấu và hy sinh, Đảng ta đã và luôn tỏ rõ “là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất”. Vì hơn bất cứ một lực lượng chính trị nào, Đảng ta luôn luôn và mãi mãi phấn đấu: Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo. Và trên thực tế, Đảng ta tranh đấu, không vì và không có lợi ích nào khác, ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân và của dân tộc Việt Nam... Đó là nguồn gốc sức mạnh làm nên và bảo đảm tính tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, mà đứng đầu là Đảng ta; làm giàu và sinh động hơn tính đảng cách mạng của chính giai cấp công nhân Việt Nam. Bài học sống còn từng xảy ra ở một số đảng tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô trước đây và một số đảng công nhân ở các nước tư bản những năm 90 của thế kỷ XX, càng làm cho chúng ta thấm thía điều sinh tử ấy. Cùng với việc các đảng này từ bỏ bản chất giai cấp công nhân, thì đồng thời mỗi đảng viên cũng đoạn tuyệt tính tiền phong cách mạng của mình. Tất cả dẫn tới việc họ tự xa rời bản chất cách mạng của mình, tự hủy hoại một cách thảm hại vai trò lãnh đạo đã từng có trong lịch sử một cách oanh liệt của chính họ. Từ rất lâu và nhất là hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không giấu giếm khuyết điểm, hạn chế và đang kiên quyết thực thi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng...”, nhằm xây dựng, chỉnh đốn mình ngang tầm nhiệm vụ, cũng vì lẽ đó.
Vì vậy, mấy ai đó đi từ sự thiển cận “thay đổi cơ cấu xã hội - giai cấp của giai cấp công nhân”(!) nào đó một cách hình thức, rồi vội vàng võ đoán vu vơ về cái gọi là “tính chất giai cấp công nhân thay đổi”(!), “thay đổi tính chất giai cấp của Đảng”(!), ... thì xin họ tự ghi nhớ lấy rằng, nếu đó không phải là chuyện mù mờ của những người khiếm thị, sự hoang tưởng của những người mất trí thì cũng là chung ý nghĩ với mấy vị thích làm vĩ cuồng mà thôi. 
Tính tiên phong của một đảng cộng sản và công nhân chân chính trước hết phải được thể hiện ở tính đảng mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Đây là vấn đề căn bản, một nhân tố bất di bất dịch, một đặc trưng bản chất của đảng cộng sản và công nhân. Là một Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; là sản phẩm của sự kết hợp hữu cơ giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; hơn nữa, lại được nhân dân Việt Nam trao cho sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta, do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam tự nó đã mang tính tiền phong cách mạng trong bản chất như một thuộc tính tự nhiên, tự nó đã mang tính nhân dân sâu sắctính dân tộc chân chính và tính quốc tế cao cả. Qua trường kỳ lịch sử hơn 83 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trải muôn vàn bão táp, bản chất ấy, vai trò lịch sử và sứ mệnh cách mạng vĩ đại ấy của Đảng không ngừng được khẳng định và phát triển; được lịch sử Việt Nam thừa nhận như một điều sinh tử, một lô-gích phát triển tất yếu của dân tộc Việt Nam; được nâng cao không ngừng và được nhân dân kiên quyết bảo vệ, tới mức không một lực luợng nào có thể phủ nhận nổi. Đó là điều khẳng định xuyên hai thế kỷ, với hơn 83 năm qua. Và đó cũng chính là quy luật phát triển, là nguồn gốc sức mạnh của Đảng được nuôi dưỡng trên nền tảng và quyện trong đạo lý truyền thống mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam, không thể gì cắt chia, không thể ai phá vỡ. Lại cũng bởi vì, Đảng ta là “đứa con nòi của nhân dân lao động” nước ta; cho dù chịu muôn vàn hy sinh, mất mát; dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, khó khăn, gian khổ đến đâu, có thể sai lầm ở mức độ này hay khác, Đảng vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn bền bỉ “đứng vững trên nền móng của một đứa con nòi” một cách xứng đáng, được cả dân tộc Việt Nam bảo vệ, bầu bạn quốc tế tôn trọng, trong vị thế là người lãnh đạo cách mạng, người đày tớ thật trung thành của nhân dân lao động Việt Nam, người chiến sĩ cao cả của bầu bạn quốc tế, như bất cứ ai có thiện chí đều thấy.
Càng bước vào thời kỳ đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, chủ động ra “biển lớn” thì bản lĩnh chính trị đó, lương tâm và đạo lý đó của Đảng, hơn bao giờ hết, càng phải được giữ vững, nhân lên và trở nên mạnh mẽ không ngừng. Đó là tất yếu. 
Chúng ta phát triển kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải là thứ kinh tế thị trường tự do - cái mà giai cấp tư sản sử dụng nó để thao túng, lũng đoạn các xã hội tư bản, vì quyền lợi của chính nó; và để cướp đoạt giá trị thặng dư và bần cùng hóa những người lao động, như bất cứ ai cũng đều thấy. Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường nhưng với mục đích trái lại, vì lợi ích của toàn thể nhân dân lao động, đồng thời chủ động chế ngự những mặt trái của nó nhằm bảo vệ và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về mặt nhận thức, Đảng ta đặc biệt coi trọng sự thống nhất giữa mục tiêu và phương tiện trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - với quyết định không hề do dự trong việc xem đây chính là  hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là, trong việc xây dựng các chính sách kinh tế, chúng ta không chỉ đơn thuần căn cứ vào mức độ thành công về kinh tế mà đồng thời luôn tính đến các phương thức thực hiện và các hệ quả của chúng đối với sự phát triển của xã hội. Việc phát triển kinh tế thị trường nhất thiết và trước hết phải được xem là một quá trình có tính chính trị và xã hội trước khi là một quá trình kinh tế và công nghệ đơn thuần, để tránh cái quy luật “cá lớn nuốt cá bé”, “kinh tế vì kinh tế”, “tiền vì tiền” một cách tàn khốc và đẫm máu như đã từng diễn ra dưới các xã hội tư bản. Đây là lợi thế so sánh tuyệt đối giữa chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, so với bất cứ một chế độ tư sản nào khác trên thế giới, cùng thực thi nền kinh tế thị trường. Con người giữ vị trí trung tâm của mọi sự phát triển, và mọi sự phát triển quay chung quanh con người, hướng tới và phục vụ con người; chứ không phải là điều ngược lại đang diễn ra ở nước này hay nước khác. Đó là bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta. Như thế, sao có thể nói một cách hồ đồ rằng, trong nền kinh tế thị trường, vấn đề tính đảng cộng sản không còn có ý nghĩa gì nữa (!), không cần đảng cộng sản nữa (!). Trái lại, hết sức cần, nếu không nói là một tất yếu khách quan, một nhu cầu nội tại trong bước phát triển của đất nước hiện nay, vì Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội, chứ không phải tạt ngang sang một chế độ chính trị nào khác; vì Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải kinh tế thị trường tự do. Về vấn đề này, trong bài “Những người cộng sản có cần kinh tế thị trường” trên trang web http://gazeta-pravda.ru, ông Pi-ốt Xvê-tốp đã góp phần kiến giải rất rõ ràng thay Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam trong một phần tư thế kỷ lãnh đạo công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu rõ rệt; Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang điều tiết thị trường vì lợi ích của nhân dân lao động, chứ không vì lợi ích của một nhóm các doanh nghiệp lớn hay các chủ ngân hàng. Tại khóa họp thứ 17 Hội động Nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra ở Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ), bà M. Ca-mô-na, chuyên gia độc lập về nhân quyền và chống đói nghèo, đã hoan nghênh những bước tiến đầy ấn tượng của Việt Nam trong xóa đói, giảm nghèo, và khẳng định, Việt Nam đã bảo đảm tốt hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân. Và, Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), ông H. Ku-rô-đa, tại cuộc họp báo ngày 03-5-2011, ở Hà Nội, khẳng định: Việt Nam tiêu biểu cho bài học thành công trong phát triển và là tấm gương cho các nước đang phát triển khác trên toàn thế giới, sau một thập niên tăng trưởng nhanh và những thành tựu ấn tượng trong xóa đói, giảm nghèo.

Trên phương diện tổ chức thực tiễn, hơn 83 năm qua, nhất là 27 năm đổi mới đất nước, Đảng ta đã, đang có đầy đủ khả năng và hành động mạnh mẽ trên mọi phương diện để thực thi một tổng thể giải pháp về chính trị, kinh tế, xã hội... nhằm phát triển đúng đắn và hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, không ngừng đổi mới, lớn mạnh, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ quản lý toàn diện đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam, đang là mối quan tâm hàng đầu của cuộc đổi mới hệ thống chính trị nước ta. Sức mạnh của Nhà nước Việt Nam, hơn bao giờ hết, đang được hiện diện thông qua một tổng thể biện pháp từ kinh tế, hành chính, đến luật pháp, giáo dục, trong đó các biện pháp kinh tế và luật pháp giữ vai trò quan trọng nhất, đủ sức đáp ứng sự phát triển không ngừng cả về quy mô, tốc độ và chiều sâu vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua đó và nhờ đó, sức mạnh, uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng đối với xã hội và trực tiếp đối với Nhà nước không ngừng được nhân lên. Đến lượt Nhà nước, nguyên nhân cơ bản trong mỗi bước trưởng thành của nó vì nhân dân và cho nhân dân, đều không thể thoát ly sự lãnh đạo của Đảng và đó là một bảo đảm, một nhân tố quyết định thắng lợi và lớn mạnh của chính Nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chung quanh vấn đề này, Đài Truyền hình Cộng hòa Liên bang Đức 3 Sat nhận định, Việt Nam là một trong những nước có sự phát triển kinh tế kỳ diệu ở châu Á, là một trong các quốc gia thành công nhất trong xóa đói, giảm nghèo. Và, ông Gi. Bu-lê, Tham tán công sứ, Trưởng Ban Kinh tế và Thương mại Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam khẳng định: EU tự hào là đối tác chiến lược của Việt Nam trên tất cả các phương diện thương mại, đầu tư, kinh tế, chính trị và văn hóa.
Hơn nữa, không chỉ về mặt đối nội, trên bình diện đối ngoại, với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, hiện nay, dưới ngọn cờ của Đảng, Nhà nước Việt Nam có mối quan hệ bang giao với hơn 170 nước, đặt mối quan hệ buôn bán với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới - một sự thật to lớn không ai không thấy. Và, Đảng Cộng sản Việt Nam có quan hệ với hơn 200 chính đảng ở 115 nước trên khắp các châu lục, trong đó có hơn 40 đảng cầm quyền và gần 80 đảng có vị trí trong quốc hội/nghị viện các nước. Ông M. Ti-ta-ren-cô, Giám đốc Học viện Viễn Đông (Liên bang Nga) khẳng định: Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, giải quyết nhiều nhiệm vụ đặt ra, đặc biệt là các vấn đề xã hội; người dân được thụ hưởng nhiều thành quả của công cuộc đổi mới; và ông nhấn mạnh: Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra những quyết định mang tính bước ngoặt, đánh dấu một thời kỳ phát triển mới ở Việt Nam. Chỉ nêu mấy điều sơ giản như thế là đủ, mà sao ai đó vẫn cố nhắm mắt đánh tráo sự thật, cả gan hồ đồ mà nói bừa rằng, “trong nền kinh tế thị trường, thực tế Đảng sẽ không còn tính đảng cộng sản nữa”(!) hoặc nếu cứ “nhấn mạnh tính tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân sẽ làm cho Đảng ta bị cô lập, bị khép kín”(!)?
Vì vậy, càng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng càng phải không ngừng giữ vững bản chất giai cấp công nhân, giữ vững tính đảng và vai trò tiên phong lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng tăng lên như một tất yếu thép, một nhu cầu kép, xét từ cả hai phía: sự phát triển của đất nước gắn chặt với sự trưởng thành của chính bản thân Đảng và Nhà nước ta, đặt trên nền móng xây dựng và phát triển toàn diện đội ngũ công nhân Việt Nam. Chúng ta không úp mở và nỗ lực thực thi một cách kiên định và hiệu quả điều đó. 
Đến đây, có thể nói gọn mấy lời, khi những âm mưu xuyên tạc cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển của Đảng ta được ngụy trang, lấp liếm dưới vỏ bọc cái gọi là học thuật bị lột bỏ, khi những cái gọi là “luận đề chính trị” mà họ cố ra vẻ trương lên bị sụp đổ..., thì cũng là lúc họ tự lòi ra bản chất chống Đảng Cộng sản Việt Nam, là lúc tự họ phơi bày thủ đoạn phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và đi ngược lại ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam./.
Nhị Lê

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

SỰ THẬT VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN -TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM



Trong xã hội mà quyền con người được khẳng định và Nhà nước luôn tạo điều kiện để bảo đảm sự phát triển của quyền con người, thì tự do báo chí và tự do ngôn luận là các yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển chung. Ðó là căn nguyên lý giải tại sao các năm qua ở Việt Nam, tự do báo chí và tự do ngôn luận lại có những bước tiến không thể phủ nhận...
Theo số liệu của cơ quan chức năng, đến tháng 3-2013, cả nước Việt Nam có 812 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm; gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ; một hãng thông tấn, 67 đài phát thanh, truyền hình, 101 kênh truyền hình, 78 kênh phát thanh; 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội, 1.174 trang thông tin điện tử được cấp phép hoạt động (năm 2011 là 46 báo điện tử, 287 trang thông tin điện tử). Hiện, Ðài Tiếng nói Việt Nam phủ sóng 99,5% diện tích lãnh thổ, qua vệ tinh tới nhiều nước trên thế giới. Hiện hơn 90% hộ gia đình Việt Nam đã sử dụng sóng truyền hình của Ðài Truyền hình Việt Nam. Qua nhiều hình thức cung cấp, người dân Việt Nam được tiếp xúc với 75 kênh truyền hình nước ngoài, trong đó có các kênh nổi tiếng như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg,... 20 cơ quan báo chí nước ngoài đã có phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức, bài vở của các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới như AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times,...
Về xuất bản, ở Việt Nam có 64 nhà xuất bản. Chỉ tính riêng trong năm 2012, ngành này đã xuất bản 28.009 xuất bản phẩm có nội dung phong phú và đa dạng, với khoảng 301.717.000 bản. Từ việc xác định vai trò của internet, Nhà nước Việt Nam có chính sách, biện pháp cụ thể để khuyến khích sử dụng internet phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm các quyền cơ bản của nhân dân. Ðó là cơ sở để năm 2012, về số lượng người sử dụng internet, Tổ chức Liên minh viễn thông quốc tế (ITU) xếp Việt Nam đứng thứ ba tại Ðông - Nam Á, thứ 8 tại châu Á. Theo số liệu khảo sát của WeAreSocial - tổ chức nghiên cứu độc lập về truyền thông xã hội toàn cầu, tới tháng 12-2012 số người sử dụng internet ở Việt Nam là 30,8 triệu, chiếm 34% dân số (mức trung bình của thế giới là 33%). Tháng 10-2009, dịch vụ truy cập internet qua mạng 3G có mặt tại Việt Nam, lập tức góp phần tạo nên sự phát triển vượt bậc của internet băng thông rộng, sau ba năm (tính đến tháng 7-2012), số lượng sử dụng đạt con số 16 triệu người (chiếm khoảng 18% dân số).
Việt Nam nổi bật trên bản đồ Facebook thế giới của Mark Zuckerberg 2
Riêng với blog, trên cả nước hiện có gần 3 triệu người có blog cá nhân. Ða số blogger sử dụng blog làm nơi bày tỏ suy nghĩ, trao đổi tâm tình, kiến thức; thông qua blog đã hình thành nhiều nhóm sinh viên, thanh niên rất tích cực hoạt động xã hội như quyên góp giúp đỡ trẻ em nghèo, giúp người không nơi nương tựa,... Hầu như các cơ sở công cộng ở đô thị như nhà hàng, khách sạn, quán giải khát, nhà chờ sân bay,... đều có Wifi miễn phí. Tại các địa phương có ngành du lịch phát triển như Huế, Ðà Nẵng, Hội An,... kế hoạch phủ sóng Wifi đã và đang được triển khai là bằng chứng cho thấy sự quan tâm của chính quyền địa phương với sự phát triển internet.

Thực tế Việt Nam cho thấy, sự phát triển của hệ thống truyền thông không chỉ để giúp nhân dân thỏa mãn nhu cầu văn hóa, mở mang và trau dồi tri thức, mà trở thành diễn đàn với nhiều hình thức phong phú, sinh động để các tổ chức xã hội, mọi người dân có tiếng nói lành mạnh, đóng góp ý kiến, thậm chí phản biện, đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước, và của các cấp chính quyền. Trong nhiều trường hợp, hệ thống truyền thông thật sự là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, bảo vệ quyền của người dân, nhất là kiểm tra, giám sát thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhiều cơ quan báo chí ở Việt Nam chủ động, tích cực phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng, phê phán hành vi vi phạm quyền công dân cùng những biểu hiện tiêu cực khác. Gần đây, việc những cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện tại Quốc hội được truyền hình trực tiếp, việc Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố công khai để toàn dân đóng góp ý kiến, việc các cuộc tọa đàm, tranh luận, cung cấp thông tin nhiều chiều về các vấn đề chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước trên phương tiện thông tin đại chúng,... giúp người dân tiếp cận với các vấn đề quan trọng, từ đó đưa ra ý kiến có trách nhiệm. Vì thế hệ thống truyền thông ở Việt Nam đã trở thành một phương tiện quan trọng trong bảo vệ và phát huy các giá trị của nhân quyền.
Ðể bảo đảm cho hệ thống truyền thông theo kịp sự phát triển, bên cạnh các quy định cụ thể trong Hiến pháp, pháp luật, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan thông tin đại chúng làm tròn chức năng, nhiệm vụ, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng được phát huy cao hơn. Biểu hiện cụ thể cho quan tâm này là Việt Nam đã có Luật Báo chí và tháng 11-2012, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua Luật Xuất bản sửa đổi, thể hiện sự nhất quán trong tôn trọng quyền phổ biến tác phẩm của cá nhân, phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Trên thế giới ngày nay, tự do ngôn luận và tự do báo chí là các yếu tố hết sức quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là biểu hiện trực tiếp của quan niệm, chính sách nhân quyền ở quốc gia đó. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc đều khẳng định các quyền cơ bản này, và Nhà nước Việt Nam đã luôn nghiêm túc tuân thủ các cam kết. Tuy nhiên, bất chấp các thành tựu nhân quyền của Việt Nam, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí thường viện dẫn từ Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị để bịa đặt Việt Nam "không có tự do ngôn luận, tự do báo chí", vu cáo Nhà nước Việt Nam "vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí". Khi viện dẫn, họ đã cố tình tảng lờ việc Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền khẳng định: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và các quyền khác: "phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng đối với các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ". Họ cũng đã tảng lờ việc trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, để bảo đảm "Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa", về tự do ngôn luận, Công ước cho rằng thực hiện quyền này "kèm theo những nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định". Wikipedia - nơi có thể tự do trình bày quan điểm, trong mục từ Tự do ngôn luận cũng viết: "Các hạn chế đối với tự do ngôn luận có thể theo "nguyên tắc gây hại" hoặc "nguyên tắc xúc phạm", thí dụ trong trường hợp khiêu dâm hoặc các nội dung thù ghét (nhằm hạ thấp một cá nhân hay nhóm người vì chủng tộc, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tôn giáo, định hướng tình dục, tật nguyền, khả năng ngôn ngữ, hệ tư tưởng, địa vị xã hội, nghề nghiệp, ngoại hình, khả năng tư duy hay bất cứ dị biệt nào...). Các hạn chế đối với tự do ngôn luận có thể được thực thi bằng luật pháp hoặc/và sự lên án của xã hội".

Trên thực tế, không chỉ ở Việt Nam mới có một số chế tài đối với hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để vi phạm pháp luật, mà ở Hoa Kỳ, CHLB Ðức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore,... đều có luật và điều khoản luật xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những kẻ thường ca ngợi tự do báo chí của cái gọi là "Việt Nam cộng hòa" cần phải biết rằng, Ðiều 16 Hiến pháp 1956 của chế độ này viết: "Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể cộng hòa", Ðiều 12 Hiến pháp 1967 của chế độ này cũng viết: "Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục". Và không thể biện minh cho tự do ngôn luận, tự do báo chí của chế độ đó khi chỉ trong một tháng đầu năm 1975 đã "bỏ tù 19 nhà báo và đóng cửa năm báo đối lập"; và 30 năm sau về cái chết của phóng viên AFP, Nguyễn Ngọc Bích - Tổng Giám đốc cuối cùng của cái gọi là "Việt tấn xã" - VTX, đã viết: "Tôi cũng sống những giờ phút thật căng khi ông Phạm Kim Quy, đại tá cảnh sát, bắn chết ký giả Agence France - Presse Paul Leandri rồi nhất quyết đòi VTX phải đưa ra cách giải thích của bên Cảnh sát quốc gia"!
Hiện nay, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí ở Việt Nam còn gặp khó khăn khi nhận thức về pháp luật của toàn dân chưa trở thành ý thức thường trực, tự giác, hệ thống truyền thông tuy phát triển song còn thiếu chuyên nghiệp, nhất là các thế lực thù địch, một số cá nhân thiếu thiện chí lợi dụng truyền thông để tác động xấu tới xã hội, công chúng, lợi dụng việc chính quyền thực thi pháp luật để vu cáo Nhà nước Việt Nam,... Nhưng chúng ta tin tưởng rằng, từ quan điểm, chính sách đúng đắn của Nhà nước Việt Nam về tự do ngôn luận và tự do báo chí, cả trước mắt và lâu dài, mọi người dân Việt Nam sẽ được hưởng các quyền này ngày càng đầy đủ hơn, được tạo các điều kiện để phát triển toàn diện và hài hòa, từ đó có những đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của xã hội.
VŨ HỢP LÂN