Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Ký ức đám cưới ngày 17.2.1979 của con trai Tổng bí thư Lê Duẩn

(TNO) Hôm nay, 17.2.2014, đúng 35 năm ngày mở đầu cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền biên giới phía Bắc, cũng là kỷ niệm 35 năm ngày cưới của tôi.


Chú rể Lê Kiên Thành và cô dâu Nguyễn Thị Tú Khanh
trong đám cưới ngày 17.2.1979 - Ảnh tư liệu gia đình
 
Năm 1979, tôi 24 tuổi, 7 năm quân ngũ và bắt đầu làm việc tại Viện kỹ thuật không quân.
Năm 1979, đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ được bốn năm. Có thể lớp trẻ bây giờ khó mà hình dung nổi bối cảnh đất nước lúc đó nhưng tôi cũng không thể nói gì cho đủ nghĩa hơn bằng ba chữ: Rất khó khăn! Hồi đó, bộ đội như chúng tôi được phát mỗi tháng 21 kg gạo nhưng vẫn đói bởi thiếu chất. Hồi đó, mỗi năm, mỗi người dân khó có nổi một bộ quần áo mới. Hồi đó, mẹ tôi làm ở Ban tuyên giáo An Giang, thỉnh thoảng lại phải “cứu viện” chất đạm cho các con, khi thì gửi ít tôm khô, hoặc các loại mắm Nam Bộ. Những đứa con miền Bắc của bà tập quen ăn mắm từ những ngày thiếu mặc, đói ăn đó.
Đầu năm 1979, khi quyết định sẽ cưới vợ, tôi vào An Giang thăm mẹ. Bà, người phụ nữ nhiều năm xa chồng con, biền biệt chiến trường có vẻ như chưa hề được sống một ngày của thời bình. Bà cho tôi xem những bức ảnh chụp những người dân bị Pol Pot giết hại. Lần đầu tiên, trong đời, tôi nhìn thấy hình ảnh những con người bị giết một cách khủng khiếp và man rợ như thế. Hàng chục, hàng trăm người đều chết cùng một tư thế: Miệng há ra, mắt mở man dại. Mẹ tôi giải thích họ bị đâm bằng những que nhọn từ hậu môn lên đến đỉnh đầu...
Năm 1979, trước ngày 17.2, những người lính chúng tôi đã được phổ biến về những va chạm lớn trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.
Nói như thế để nhắc lại rằng, ở thời điểm đó, đất nước chúng ta ở vào thời điểm vô cùng khó khăn. Thiếu, đói... chỉ là yếu tố rất nhỏ trong 2 chữ KHÓ KHĂN đó.
Thế nhưng, cũng sẽ chẳng ai hình dung nổi, khi còn thiếu mặc và đói ăn đó, chúng tôi được giao nhiệm vụ thử nghiệm chế tạo máy bay...
Ngày 16.2, báo động cấp 1 toàn quân được chuyển xuống cấp 3.
Sáng thứ bảy,17.2.1979, Trung Quốc tấn công trên toàn tuyến biên giới.
Tối hôm đó, đám cưới của tôi vẫn diễn ra. Vẫn gần đông đủ những cán bộ cao cấp: Trường Chinh, Tố Hữu, Đại tướng Văn Tiến Dũng... Gọi là đám cưới nhưng thực ra thì cũng là một bữa tiệc nhà có chút rượu, trà thuốc và kẹo. Tôi thoáng thấy sự căng thẳng trên gương mặt của những lãnh đạo đơn vị và quân chủng không quân.
Cha tôi - Tổng bí thư Lê Duẩn - và các lãnh đạo cao cấp vẫn nói chuyện bình thường, không nhắc gì về những gì đang diễn ra ở biên giới. Đặc biệt, nét mặt cha tôi rất bình thản, không hề để lộ (hoặc có thể không có) cảm giác âu lo hay căng thẳng gì. Cũng có thể nhờ thế, chỉ vài chục phút sau khi bắt đầu hôn lễ, không khí căng thẳng trong nhóm sĩ quan quân đội được giải tỏa, trở lại bình thường. Hôm sau, một người bạn binh ngũ nói với tôi: “Hôm qua thấy đám cưới vẫn diễn ra, thấy mọi việc vẫn bình thường, và đặc biệt, nhìn nét mặt của ông già mày, bọn tao tin Trung Quốc chẳng đánh đến Hà Nội được đâu...”.
Tôi không bao giờ tưởng tượng rằng mình sẽ có một đám cưới như trong nhiều bộ phim mà mình từng xem thời niên thiếu: Sau đám cưới, chú rể trở về ngay đơn vị...
Ngay sau ngày cưới, tôi trở về đơn vị và bắt đầu cuộc sống của người lính thời chiến tranh. Thỉnh thoảng chủ nhật vợ tôi đến thăm chồng; khi ra về mắt đỏ hoe, làm tôi thấy thương cảm vô cùng!


Những người tham gia thiết kế, chế tạo chiếc máy bay Việt Nam đầu tiên TL-1.
Từ trái qua phải: Lê Kiên Thành, Trần Mạnh Chung, Nguyễn Văn Hải, Bùi Thanh Châu.
Đây là những ngày bay thử trên sân bay Hoà Lạc - Ảnh tư liệu gia đình
Lúc đó, nghe nói rằng, chúng ta đã chuẩn bị cho một cuộc chiến bằng không quân để bảo vệ biên giới.
Thế nhưng, điều đặc biệt là những ngày tháng đó, Hà Nội vẫn bình thường. Bình thường trong một cuộc chiến hết sức không bình thường. Khi tiếng súng đã nổ ra ở biên giới nhưng mấy tháng sau thì kết thúc, người Hà Nội điềm tĩnh pha chút tự hào kín đáo nhìn lại: Trung Quốc đã không thể kéo dài cuộc chiến và không thể đánh đến Hà Nội...
Cha tôi còn nói: Nếu theo lẽ bình thường, Trung Quốc không nên đánh Việt Nam...
Nhưng có lẽ người Việt Nam là vậy, một khi điều bất bình thường nhất đã xảy ra, họ bình thản đón nhận.
Và tới năm 1980, chiếc máy bay đầu tiên do người Việt Nam tự thiết kế và chế tạo mang tên TL-1 đã bay trên bầu trời Tổ quốc. Năm 1981, đứa con trai đầu lòng của tôi ra đời, tôi đặt tên là Lê Kiên Dũng.
Và cũng là bình thường khi kỷ niệm 35 năm ngày cưới, tôi không thể quên, ngày cưới của mình trùng với ngày nổ ra chiến tranh biên giới. Tất nhiên không nên ôm chặt những chuyện không vui của quá khứ nhưng hãy hiểu quá khứ để nhìn về tương lai một cách chuẩn xác hơn!

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Đại Tướng :“Tôi chỉ như giọt nước trong biển cả”

QĐND - LTS: Nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, ngày 13-3-2004, Hội Cựu Chiến binh Hà Nội tổ chức buổi gặp mặt các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ đã tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến dự và nói chuyện với các cựu chiến binh. Buổi nói chuyện đã gần 10 năm nhưng nghe lại vẫn đầy xúc cảm về nghĩa tình của Đại tướng với nhân dân, với đồng đội. Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng xin giới thiệu nội dung cuộc trò chuyện này như một nén tâm nhang dâng Đại tướng. Tài liệu ghi âm do Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp cung cấp.
“Hôm nay là ngày của chúng ta, của toàn thể nhân dân, của bạn ta trên thế giới. Có được chiến thắng này (Đại tướng nghẹn ngào rút khăn lau nước mắt) biết bao người đã ngã xuống. Tôi lên Điện Biên Phủ, cả ngày đêm nhớ anh em, nhớ những nấm mồ (Đại tướng khóc). Tôi có nói: “Đó là những chàng trai, cô gái Phù Đổng làm xong nhiệm vụ, đã bay lên trời. Tổ quốc, nhân dân ghi công, còn nhớ mãi”.
Bản thân tôi, các anh chị có nói đến cống hiến, nhưng thật ra tôi chỉ như giọt nước trong biển cả. Cống hiến là của toàn dân, của bao nhiêu anh chị em đã ngã xuống, của nhiều anh chị em Lào - Cam-pu-chia đã phối hợp chiến đấu.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến dự và nói chuyện với các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngày 13-3-2004.
Ảnh tư liệu
Cái vui mừng của tôi là: Năm nay, được sự lãnh đạo của Đảng, của Chính phủ, của Bộ Văn hóa, lễ kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ nói chung đã được tổ chức trọng thể. Cháu của tôi lên 3 tuổi cũng biết đến Điện Biên Phủ, ông nội hò dô ta, kéo pháo…
Tôi có nói, kỷ niệm Điện Biên Phủ thiết thực nhất là làm cái gì đó để đáp lại cái mong muốn của những người đã khuất… Tôi nhận được rất nhiều cuộc phỏng vấn. Một nhà báo Thụy Sĩ phỏng vấn tôi: “Đại tướng có tài thao lược lớn, đã làm nên chiến thắng tất cả các đế quốc xâm lược. Bây giờ còn kẻ thù nghèo nàn và lạc hậu, không phải chỉ của Việt Nam mà còn là của nhiều dân tộc trên thế giới, Đại tướng có tài thao lược gì góp phần vào đánh thắng kẻ thù đó?”. Tôi trả lời nhà báo Thụy Sĩ: “Cái mà kỷ niệm thiết thực nhất là mọi người chúng ta đều cố gắng lên. Như Bác Hồ đã nói: Làm việc tất cả đều vì Nước, vì Dân, không có cá nhân. Bác Hồ nói với tôi câu đó, khi tôi nằm cùng với Bác trên cái giường gỗ trong hang Pắc Pó. Lúc Bác nhắc nhở tôi làm nhiệm vụ quân sự, tôi cũng rất bất ngờ, vì lúc đó tôi đã được học tập gì về quân sự đâu? Bác nói: Trận đánh đầu tiên phải thắng, dựa vào Dân nhất định thắng, dựa vào Dân thì có tất cả”.
Nhân hôm nay, xin chia vui với các bạn 2 ký ức của tôi là:
Một là: Ở đời tất cả vì Nước, vì Dân.
Hai là: Sáng nào thức dậy, tôi cũng nghĩ là sẽ phải làm việc gì có lợi cho công việc chung. Tôi yên tâm, có lúc có chuyện này, chuyện kia, tôi không có gì phải bận tâm. Tôi luôn thanh thản, gọi là đức Nhẫn cũng được.
Hiện giờ, có phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Có người nói nhiều, làm ít. Hồ Chí Minh nói là làm, cho nên tôi viết một bài: “Nói và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Mong rằng anh chị em của chúng ta cũng làm được việc đó. Nói là đức Nhẫn cũng đúng, nhưng tôi thấy đó là việc làm bình thường thôi, tấm lòng mình trung chính là đủ rồi.
Tôi chúc tất cả các anh chị em sức khỏe, chúc các chị trông nom cho các cháu. Làm sao cho chúng ta đều cần biết: Đảng ta đã làm được nhiều việc rất to lớn, kể cả Chiến thắng Điện Biên Phủ. Làm sao vì Nước, vì Dân, mọi người đều cố gắng, học tập.
Hãy nhớ hai chữ: Quyết đánh và Quyết thắng nghèo nàn lạc hậu.
Tôi nói thêm: Tổng thống Ni-ca-ra-goa trước đây có hỏi tôi: Bí quyết thắng giặc. Tôi cũng nói như vậy: Quyết đánh và Quyết thắng và có thêm 2 chữ nữa: Biết đánh và Biết thắng.
Cho nên phải dũng cảm và thông minh, muốn thông minh thì phải học, học cả lịch sử nữa. Làm sao để báo chí có viết về chuyện nọ, chuyện kia, nhưng viết về thời trang và hoa hậu thì vừa vừa thôi. Phải viết nhiều về lịch sử, về cái Đức của Đất nước, về cái Đức của Con người, Quyết tiến lên và Biết tiến lên!”.

THỦY TRƯỜNG (ghi)

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Những con người đã thành bất tử !

Sáng 6/10, ngày làm việc thứ bảy Hội nghị lần 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Ban Chấp hành trung ương đã tiến hành phiên họp toàn thể tại hội trường.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã dành phút mặc niệm, bày tỏ lòng thương tiếc, tưởng nhớ và biết ơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng đầu tiên, bí thư Quân ủy trung ương đầu tiên, tổng tư lệnh Quân đội nhân dân VN đầu tiên và duy nhất cho đến nay, người cộng sản kiên trung, mẫu mực, một thiên tài quân sự, đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc.

Có lẽ đã từng có nhiều người nghi vấn về việc tại sao chỉ tổ chức quốc tang trong 2 ngày ,hay lại để đến tận 1 tuần mới tổ chức quốc tang . Quan điểm đó đới với nhiều người chỉ đơn thuần là sự nghi ngờ bình thường ,nhưng chúng cũng đã được nhiều " cây bút trẻ " sáng tác ra thành nhiều màn đấu đá cực hay mà tôi có hân hạnh đọc được hôm qua .Vậy thì để tôi dùng con mắt và sự suy nghĩ nông cạn của mình để giải thích vậy !
Thứ nhất ,chậm tổ chức quốc tang 1 tuần chính là đáp ứng mong mỏi người dân cả nước được đến để đưa tiễn ,chia tay ,viếng và thể hiện lòng kính trong tột cùng của mình đối với người anh hùng của thời đại Hồ Chí Minh . Tôi đã nhận ra điều đó trực tiếp khi được nhìn thấy dòng người dài thẳng tápw ở ngã Tư Hoàng Diệu đó ,cũng như đọc được những Stt của người bạn từ miền nam gửi ra : chúng tôi sẽ ra bắc ,mỗi người một phương tiện nhưng sẽ tập trung lại ,hay một nhóm bạn trẻ đang tản mát khắp nơi tập trung ở chân tượng đìa Lênin chuẩn bị đi vào xếp hàng .... Một tuần ,chỉ một tuần thôi ,quốc tang cũng chỉ 2 ngày ,nhưng đối với những con người Việt Nam chúng tôi ,không còn có sự phân biệt giữa quốc tang với tuần này ,không còn phân biệt giữa nhà tang lễ quốc gia ,dinh độc lập hay cẳn nhà 30 Hoàng Diệu ,tất cả những đia danh ấy đều được nhắc đến với con tim chúng tôi như những biểu hiện của ngày quốc tang ,vậy thì quốc tang đâu còn 2 ngày nữa ,đó là 9 ngày rồi .
Tôi cũng đã hiểu vì sao mà Nhà Nước lại chỉ tổ chức quốc tang có 2 ngày . Không phải là sự đối đãi bác bẽo như những tên ngu ngốc kia loang tin ,đó là thể hiện sự có tình có lí của nhà nước ,sự tuơngr nhớ của một chế độ với một vĩ nhân . Đại tướng nếu còn sống chắc hẳn cũng không bao giờ mong muốn ngừng đi những tiếng cười hồn nhiên của con trẻ ,những tiếng hát vui vẻ đầy sức sống của thanh niên sinh viên ,những thứ mà Người đã giành cả cuộc đời để xây đắp ,bảo vệ .
Một phút tưởng niệm tuy là ít ỏi ,nhưng đâu phải chỉ có một phút tưởng niệm đâu ,mà đó chỉ là một thứ biểu hiện cho những lời hứa đã ghi sâu vào tâm khảm .
Và ,với tôi ,với chúng ta với con dân đất nước Việt Nam này ,Bác , Đại Tướng ,TBT Lê Duẩn ,TBT Trường Chinh và lớp lớp những thế hệ tiền bối đi trước vẫn còn sống mãi ,vẫn còn tỏa sáng ,tư tưởng của thế hệ Hồ Chí Minh vẫn còn cháy bỏng trong trái tim chúng ta ,tỏa ra khắp mọi miền quê hương để xây dựng lên đất nước này ,vậy sự ra đi đâu còn quá đau đớn vì đâu có sự ra đi .
Là một người theo chủ nghĩa duy vật ,tôi không tin tưởng vào sự hồi sinh ,không tin tưởng vào cõi thiên đàng ,nhưng tôi tin những người anh hùng vẫn bất tử ,giống như Bác nói " đi theo cụ Các Mác ,cụ Lê nin " không phải là đi lên mảnh đất nào đó vô hình ,đơn giản ,đó là linh hồn của Bác - tư tưởng Hồ Chí Minh bất tử như những tư tưởng của Các Mác về XHCN và của Lênin về nhà nước và kiến tạo nhà nước đã thành bất tử . Tôi tin ,học thuyết chiến tranh nhân dân mà Đại Tướng xây dựng cũng vẫn luôn bất tử như vậy ,để trở thành thanh gươm sắc bén bảo vệ tổ quốc của chúng ta ,tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa .
Nguyễn Linh

Ðại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp sống mãi trong lòng nhân dân ta, quân đội ta và bạn bè quốc tế

Đoàn đại biểu Lãnh đạo TƯ Hội truyền thống Trường Sơn đường Hồ Chí Minh Việt Nam do Thiếu tướng Võ Sở, Chủ tịch, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực TƯ Hội dẫn đầu tới chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp Đại tướng 103 tuổi (25/8/1911 – 25/8/2013). Đại tá Nguyễn Huyên, Thư ký của Đại tướng, (ngồi giữa) thay mặt Đại tướng đã tiếp Đoàn- Nguồn: http://hoitruongson.vn
Đoàn đại biểu Lãnh đạo TƯ Hội truyền thống Trường Sơn đường Hồ Chí Minh Việt Nam do Thiếu tướng Võ Sở, Chủ tịch, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Thường trực TƯ Hội dẫn đầu tới chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp Đại tướng 103 tuổi (25/8/1911 – 25/8/2013). Đại tá Nguyễn Huyên, Thư ký của Đại tướng, (ngồi giữa) thay mặt Đại tướng đã tiếp Đoàn- Nguồn: http://hoitruongson.vn

Thế là anh Văn - Ðại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - nhà lãnh đạo cách mạng thời Bác Hồ duy nhất còn lại đến ngày nay đã ra đi, để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng đồng bào, đồng chí cả nước và bạn bè quốc tế!
Chúng tôi, những cán bộ vinh dự được trực tiếp giúp Ðại tướng làm việc đến nay đã hơn 37 năm, trong giờ phút này biết bao kỷ niệm sâu sắc với Ðại tướng cứ hiện ra trong tâm trí, lòng càng xúc động và thương tiếc Anh vô hạn.
 Lần đầu tiên gặp Anh và được gọi Ðại tướng là Anh Văn đã để lại ấn tượng về một tình cảm rất gần gũi, thân thiết. Những năm tháng làm việc bên cạnh Ðại tướng, chúng tôi luôn coi Anh như một người Anh, người Cha, người Thầy rất mực hiền từ và uyên bác. Anh là một tấm gương mẫu mực, một nhân cách lớn bởi tầm cao trí tuệ, đạo đức nhân văn, tấm lòng yêu nước thương dân, luôn "dĩ công vi thượng", hết lòng phục vụ Ðảng, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sống nhân hậu, dân chủ, bình đẳng, yêu thương cán bộ, chiến sĩ, gần gũi tôn trọng nhân dân.
 Anh Văn là một trong những nhà lãnh đạo cách mạng tiêu biểu, một nhà quân sự lỗi lạc, một vị Tổng Tư lệnh "văn võ song toàn", "đức tài trọn vẹn", một nhà chiến lược mưu trí sáng tạo, một nhà lý luận quân sự hàng đầu, một nhà tổ chức kiệt xuất, một vị tướng có uy tín lớn trong nước và trên thế giới. Anh còn là nhà báo, nhà giáo, nhà ngoại giao, nhà sử học, nhà văn hóa lớn của dân tộc. Anh thuộc lớp người đã cùng Bác Hồ sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có công lao to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Anh Văn là một vị tướng "nhân, trí, dũng, liêm, trung", người học trò xuất sắc, trung thành, gần gũi nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con Anh hùng của dân tộc, người Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh có hạnh phúc lớn là được sự ủng hộ, tin yêu và kính trọng hầu như tuyệt đối của toàn quân, toàn dân và sự mến phục của đông đảo bạn bè quốc tế. Ðó là phần thưởng cao quý nhất đối với Anh, là nguồn động viên to lớn nhất giúp Anh vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Ðảng, Bác Hồ và nhân dân giao phó.
 HƠN 35 năm giúp việc Ðại tướng, chúng tôi được tiếp xúc với nhiều tư liệu, làm việc với nhiều ngành, nhiều địa phương, đơn vị, dự nhiều cuộc hội thảo, tổng kết và có lúc được nghe Ðại tướng trả lời phỏng vấn, được gặp nhiều nhân chứng lịch sử, đặc biệt là khi chuẩn bị bài viết này, chúng tôi đã trao đổi ý kiến với những đồng chí trước đây đã trực tiếp giúp Anh Văn làm việc. Nhờ vậy, chúng tôi càng có thêm hiểu biết về con người và sự nghiệp cách mạng của Anh.
 Suốt cuộc kháng chiến lâu dài 30 năm giải phóng dân tộc, Anh liên tục phụ trách công tác quân sự, là Tổng Tư lệnh Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, hầu hết các chiến dịch lớn Anh đều ra mặt trận, là Tổng Tư lệnh kiêm Tư lệnh, Bí thư Ðảng ủy các chiến dịch: Biên Giới, Trung Du, Ðường số 18, Hà Nam Ninh, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, cho đến chiến dịch Ðiện Biên Phủ lịch sử. Trận quyết chiến chiến lược Ðiện Biên Phủ đã giành thắng lợi vĩ đại, đưa đến việc ký kết Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, giải phóng Thủ đô, giải phóng nửa nước, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp. Trong thời kỳ này, Anh đã kiến nghị với Ðảng, Bác Hồ và Tổng Bí thư Trường-Chinh những quyết sách đúng đắn và sáng tạo như: tổ chức lại bộ đội theo hình thức đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung; thành lập Ðại đoàn chủ lực đầu tiên; đánh Ðông Khê mà không đánh Cao Bằng trong chiến dịch Biên Giới; mở chiến dịch đánh quân chủ lực cơ động của địch hành quân ra Hòa Bình, đồng thời đưa một bộ phận chủ lực ta luồn vào đánh sau lưng địch để phát triển chiến tranh du kích kiềm chế, tiêu hao tiêu diệt địch; mở chiến dịch Tây Bắc, nơi địch sơ hở và địa hình có lợi để tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, đặc biệt là quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc" trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ. Sự chỉ đạo, chỉ huy của Ðại tướng Tổng Tư lệnh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, về sau là đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, từ rất sớm. Trong quá trình đánh Mỹ, trên cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh đã cùng với các đồng chí trong Quân ủy Trung ương chỉ đạo xây dựng những kế hoạch chiến lược và phương án tác chiến để kiến nghị với Trung ương và Bộ Chính trị, tổ chức chỉ đạo, chỉ huy thực hiện các kế hoạch ấy, đánh bại các cuộc tấn công của quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền nam và cuộc chiến tranh phá hoại ở miền bắc.
 Anh Văn là người sớm có kiến nghị và có nhiều công lao trong việc khẩn trương xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên chính quy hiện đại, xây dựng các Quân chủng Phòng không - Không quân, Hải quân, Binh chủng Ðặc Công, xây dựng đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển chi viện cho tiền tuyến lớn miền nam; kịp thời xây dựng các Quân đoàn chủ lực để đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, thực hiện những trận đánh tiêu diệt lớn.
 Ðặc biệt, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, cùng với sự chỉ đạo của đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo nghiên cứu, đề xuất kiến nghị với Bộ Chính trị và cùng  với cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tư lệnh tiền phương chỉ huy toàn quân thực hiện thắng lợi quyết tâm chiến lược giải phóng miền nam. Anh đã có những ý kiến chỉ đạo đúng đắn sáng suốt như: chọn đúng hướng đột phá chiến dịch vào Buôn Mê Thuột Tây Nguyên, phán đoán đúng địch sẽ rút Kon Tum để kịp thời có phương án chặn đánh và tiêu diệt địch. Khi xuất hiện tình huống địch hoang mang rút chạy hỗn loạn khỏi Tây Nguyên, Ðại tướng Tổng Tư lệnh đã kịp thời nắm bắt thời cơ chiến lược, đề nghị chuyển sang kế hoạch sớm giải phóng miền nam trong năm 1975, kịp thời mở các chiến dịch giải phóng Huế - Ðà Nẵng, chỉ đạo giải phóng Quần đảo Trường Sa, phê chuẩn đề nghị thành lập cánh quân phía Ðông và ra mệnh lệnh "thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa... (ngày 7-4-1975)" cho toàn quân xốc tới; ra lệnh cho cánh quân phía Ðông tiếp tục phát triển tiến công, không chờ đợi để nhanh chóng tiến vào giải phóng Sài Gòn, cùng với bốn cánh quân khác mãnh liệt đánh vào sào huyệt địch trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sự chỉ đạo ấy đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vẻ vang của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc.
 Anh Văn là một nhà lãnh đạo rất coi trọng việc nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, nhất là về lĩnh vực quân sự. Anh đã biên soạn xuất bản hơn 40 tác phẩm. Trước cách mạng Tháng Tám, Anh đã tham gia viết "Vấn đề dân cày", "Con đường giải phóng". Trong cuộc kháng chiến 30 năm, Anh đã biên soạn xuất bản nhiều tác phẩm về lý luận, tiêu biểu như: "Quân đội nhân dân và chiến tranh nhân dân", "Chiến tranh du kích", "Ðiện Biên Phủ", "Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước", "Bài giảng về đường lối quân sự của Ðảng", "Nhiệm vụ phát triển nền khoa học quân sự Việt Nam"... và viết nhiều bài luận văn quân sự mà Nhà xuất bản quân đội đã in thành "Tổng tập luận văn"... Anh còn biên soạn xuất bản nhiều tập hồi ký như "Từ nhân dân mà ra", "Những năm tháng không thể nào quên", "Ðường tới Ðiện Biên", "Ðiện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử", "Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng". Trong những năm đổi mới, Anh chủ biên cuốn "Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam" và xuất bản cuốn "Những bài nói và viết chọn lọc thời kỳ đổi mới"...
 Những tác phẩm của anh Văn đã góp phần quan trọng phổ biến quán triệt đường lối chính trị, quân sự của Ðảng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục lịch sử, truyền thống và kinh nghiệm cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta. Ðồng thời, qua những tác phẩm ấy, chúng ta cũng nhận biết những phát triển mới, những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp.
 Nhìn lại lịch sử quân sự Việt Nam hiện đại, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng; Ðại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là vị tướng có công lao lớn nhất trong sự nghiệp xây dựng cho đất nước ta một Quân đội nhân dân. Từ đội quân chủ lực đầu tiên 34 chiến sĩ, trang bị thô sơ, hoạt động du kích, đã trưởng thành nhanh chóng đủ cả hải, lục, không quân với ba thứ quân, trở thành một đội quân hùng mạnh, thiện chiến, chính quy tinh nhuệ ngày càng hiện đại và là vị Tổng Tư lệnh đã trực tiếp chỉ huy quân đội ấy cùng với toàn dân đánh bại những kẻ thù xâm lược hung bạo trong cuộc chiến tranh 30 năm giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc.
 SAU khi đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng, từ năm 1976 Anh Văn được Bộ Chính trị và Thường vụ Chính phủ phân công vừa phụ trách quốc phòng đến năm 1978, vừa chỉ đạo công tác khoa học - kỹ thuật, về sau cả khoa học xã hội và sau đó cả công tác giáo dục-đào tạo, cho đến năm 1991. Ðây là hai lĩnh vực mới và khó. Với kiến thức uyên bác, luôn có tầm nhìn chiến lược, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú trong quân đội, Anh đã có cách làm việc, vừa nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm của thế giới vừa tập hợp được trí tuệ của các nhà khoa học trong nước để làm giàu cho trí tuệ của mình. Vì vậy, Anh đã sớm nắm bắt được vấn đề và có những ý kiến chỉ đạo đúng đắn, sát thực tiễn.
 Những cống hiến của Anh về lãnh đạo khoa học và giáo dục đã góp phần đề ra những quan điểm cơ bản tạo nên những tiến bộ nhất định đối với sự phát triển đi lên của nền khoa học và nền giáo dục nước nhà phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng.
 Là cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt gần 30 năm và quá trình tham gia lãnh đạo cách mạng, Anh Văn sớm thấy được giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thắng lợi cách mạng Việt Nam. Khi tình hình đất nước diễn ra khủng hoảng kinh tế, Anh thấy có hiện tượng xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã sớm đề xuất cần có đề tài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và Anh trực tiếp triển khai nghiên cứu. Năm 1990, tại lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức tại Ấn Ðộ, thay mặt Ðảng và Nhà nước ta, Anh Văn đã tham dự và trình bày một bài tham luận "Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi", được mọi người hoan nghênh.
 Năm 1991, Anh đề nghị Bộ Chính trị và Ban trù bị Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Ðảng cần xác định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Ðảng ta và đã được Ðại hội nhất trí tán thành. Sau Ðại hội, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đã có bước phát triển mới, trở thành một chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước. Anh được mời làm cố vấn chương trình và trực tiếp làm chủ nhiệm đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam". Suốt năm năm nghiên cứu, Anh đã tổ chức nhiều cuộc Hội thảo, đi nói chuyện về tư tưởng Hồ Chí Minh ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và nhiều nơi khác. Lần đầu tiên, Anh nêu lên một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu, tức là đi từ tìm hiểu nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ đó đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn bản chất, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ sự vận dụng và bước phát triển mới của Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Kết quả nghiên cứu của chương trình, đề tài đã góp phần quan trọng quán triệt tư tưởng của Người vào đường lối của Ðảng và mở ra một thời kỳ mới học tập, nghiên cứu quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn Ðảng, toàn dân ta.
 Từ khi Anh rời cương vị lãnh đạo, quản lý cho đến những năm đầu của thế kỷ XXI, tuổi tác ngày càng cao, nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn, vẫn theo dõi cập nhật tình hình thời sự trong nước, thế giới và luôn quan tâm, kịp thời đóng góp ý kiến với Ðảng, Nhà nước những vấn đề mà Anh cho là quan trọng.
 Một thời gian, hằng năm, tại ngôi nhà riêng số 30 đường Hoàng Diệu, nơi Anh sống và làm việc trong hơn nửa thế kỷ, vào dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và quân đội, ngày Tết cổ truyền của dân tộc, ngày sinh nhật Anh luôn có nhiều đoàn trong nước và quốc tế đến thăm. Tính từ năm Anh 80 tuổi (1991) đến 2008, hằng năm có từ 150 đến 200 đoàn với từ 2.000 đến 2.500 người đến thăm, trong đó có từ 20 đến 30 đoàn quốc tế và nhiều nguyên thủ quốc gia. Hiếm có trường hợp, một đồng chí lãnh đạo đã về nghỉ mà đồng bào, đồng chí lại đến thăm hỏi chúc mừng đông hơn khi còn làm việc và thể hiện tình cảm sâu sắc như vậy. Phòng tiếp khách của Anh Văn khá rộng, nhưng vẫn không đủ chỗ để trưng bày hàng trăm bức trướng, câu đối, bài thơ, những tranh tượng và nhiều tặng vật quý của các đoàn  đến thăm, chúc mừng đã trao tặng Anh.
 Trên thế giới, danh tướng Võ Nguyên Giáp đã được ghi trong từ điển bách khoa nhiều nước, có hàng chục tác phẩm viết về Ðại tướng.
 Ðảng ta, nhân dân ta, quân đội ta tự hào và mãi mãi ghi nhớ công lao to lớn của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp. Công lao sự nghiệp, tư tưởng quân sự, tài thao lược và đạo đức nhân văn của Ðại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp mãi mãi trường tồn với lịch sử, với văn hóa của dân tộc Việt Nam, lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam.
 Hình ảnh Ðại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Anh Văn một trong những vị lãnh đạo tiêu biểu của Ðảng, của dân tộc - Người Anh cả của quân đội ta sống mãi với non sông đất nước ta, sống mãi trong lòng nhân dân ta, quân đội ta và bạn bè quốc tế.




Bức điện mật nổi tiếng “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận. Giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc tới đảng viên và chiến sĩ” do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký chuyển như một lời Hịch tướng sĩ. Nguồn:Tinmoi.vn

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (đứng, bên phải) trình bày với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước kế hoạch mở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Ảnh tư liệu TTXVN.
ÐẠI TÁ NGUYỄN HUYÊN VÀ ÐẠI TÁ TRỊNH NGUYÊN HUÂN, TRỢ LÝ ÐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
                                                               

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - thiên tài quân sự

QĐND - Khi nhận được tin Đại tướng Tổng Tư lệnh Quân đội Võ Nguyên Giáp đã ra đi, dù biết trước điều này sẽ đến, nhưng tôi vẫn xúc động đến sững sờ. Đại tướng là Tổng Tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng là một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại tướng là người Anh Cả của Quân đội ta, một nhân vật lớn của thời đại. Thuộc thế hệ sau, được chiến đấu trong hàng ngũ Quân đội nhân dân Việt Nam nên tôi có nhiều lần vinh dự tiếp kiến Đại tướng và có những kỷ niệm với Đại tướng, một nhà chiến lược tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam, một kiến trúc sư về nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu.
Năm 1975, khi tôi đang làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, Quân đoàn 1, từ Tam Điệp hành quân thần tốc vào Đông Hà làm dự bị cho chiến dịch giải phóng Huế và Đà Nẵng; sau đó hành quân qua đèo Ăng-bun trên đường Trường Sơn vào tập kết ở Đồng Xoài, Đông Nam Bộ chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng miền Nam thì nhận được bức điện của Đại tướng qua đài 15w: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng phút, từng giờ. Xốc tới miền Nam. Quyết chiến và quyết thắng!”. Sau khi nghe xong mệnh lệnh của Đại tướng, các chiến sĩ như hết mệt mỏi, được tiếp thêm ý chí để hăng hái tiến ra tiền tuyến. Lúc đó là vào mùa khô hanh. Đường Trường Sơn bụi mịt mù phủ lên mọi vật như một lớp tuyết màu đỏ sậm, có những đoạn bụi lầy dày gần một mét, nhưng đoàn quân trùng trùng điệp điệp vẫn hừng hực khí thế tiến ra mặt trận. Với nghệ thuật thần tốc quyết thắng, đánh thẳng vào mục tiêu đầu não của địch từ hướng Lái Thiêu theo trục đường 13, Trung đoàn 27 chúng tôi đã đập tan tuyến tử thủ bắc Sài Gòn, chiếm cầu Bình Phước, đánh chiếm Bộ tư lệnh Thiết giáp ngụy ở Gò Vấp và các mục tiêu khác, góp phần cùng quân và dân giải phóng Sài Gòn...
Đầu tháng 12 năm 1999, khi tôi đang là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó chủ tịch thường trực Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, thì xảy ra một trận lụt “Đại hồng thủy” ở miền Trung. Đường bộ bị lũ chia cắt. Đường không gió lớn không đi được. Tôi cùng với đại diện của Bộ tư lệnh Quân khu 5, Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng đi trên con tàu Đại Lãnh vào Quảng Ngãi để cứu giúp đồng bào. Vì bão to gió lớn, con tàu bị trôi ra biển, mất liên lạc với đất liền nhiều giờ. Khi được đồng bào cứu hộ vào bãi biển Dung Quất, tôi được các sĩ quan ở Cục Tác chiến thông báo: Trong lúc chúng tôi bị bão cuốn ngoài biển, Đại tướng Võ Nguyên Giáp liên tục gọi điện vào Bộ Quốc phòng nắm tình hình, hỏi về con tàu chở đoàn chúng tôi. Khi vào bờ thì nối liên lạc được với Đại tướng. Đại tướng tỏ ra rất lo lắng cho tôi và anh em. Tôi báo cáo tình hình với Đại tướng. Khi ấy Đại tướng mới yên tâm. Rồi Đại tướng biểu dương, động viên chúng tôi, hãy mang hết khả năng cùng với lãnh đạo địa phương cứu giúp đồng bào giảm thiệt hại thấp nhất cả người và tài sản. Tối hôm ấy, tôi đã trả lời phỏng vấn trực tiếp phóng viên Chương trình Thời sự của Đài Tiếng nói Việt Nam. Đại tướng theo dõi lắng nghe và tỏ ra rất hài lòng.
Nhân dịp Tết Nguyên đán năm 2007, như thông lệ, năm nào tôi cũng dẫn đoàn Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đến thăm, chúc tết Đại tướng. Biết vậy, Đại tướng dặn nên đến vào ngày 29 để có thời gian trò chuyện, vì các ngày khác nhiều đoàn đến chúc. Khi tôi dẫn đoàn vào, đang mặc quần áo thường phục, Đại tướng bảo chúng tôi chờ để Người mặc quân phục. Dù tiếp chúng tôi là cấp dưới, Đại tướng cũng rất trang trọng và chính quy. Chúng tôi chúc tết Đại tướng xong thì Người lấy một tấm bản đồ và một tờ giấy lớn đặt lên bàn. Đại tướng nói về ý định chiến lược trong chiến dịch năm 1972 ở Quảng Trị vì tôi từng chiến đấu nhiều năm ở đó. Đại tướng tỏ ra rất thương tiếc hai vị tướng chỉ huy chiến dịch này là Tư lệnh Lê Trọng Tấn và Chính ủy Lê Quang Đạo đều đã mất. Hẳn vì thế mà Người muốn nói những điều thật cần thiết gì đó với tôi. Đúng thế, Đại tướng nói những điều rất hệ trọng trong chiến lược, chiến thuật và nghệ thuật cách đánh mang đến thắng lợi toàn chiến dịch. Đại tướng nói: “Đồng chí ở vị trí chiến lược của Bộ Quốc phòng cần phải biết rõ những vấn đề này để rút ra những bài học kinh nghiệm cho nghệ thuật quân sự Việt Nam…”. Có thể nói, đó là một buổi gặp gỡ mà Đại tướng đã truyền cho tôi không chỉ lý trí mà còn là những kinh nghiệm quý báu của một vị tướng tài rất có tâm, một nhân cách lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Dịp Tết Nguyên đán năm 2008, cũng vào chiều 29, tôi khi ấy vẫn giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban phối hợp Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga dẫn đoàn đại biểu, có cả các nhà khoa học Nga, vào chúc Tết Đại tướng. Đại tướng rất quý những người bạn Nga, nhất là những nhà khoa học và quân sự. Tôi thay mặt đoàn báo cáo tình hình của Trung tâm và chúc Tết Đại tướng. Tôi chúc Đại tướng sống lâu trăm tuổi. Đại tướng liền giơ tay ra hiệu, tôi hiểu động tác đó tỏ ý chưa hài lòng với lời chúc. Ông không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một trí thức lớn. Tôi liền chúc lại rằng, chúc Đại tướng sống trên trăm tuổi. Khi đó, Đại tướng mới tỏ vẻ hài lòng, tươi cười nhận bó hoa tôi tặng, rồi Đại tướng cùng chúng tôi chụp một bức ảnh kỷ niệm. Lúc đó, Đại tướng mới ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Có người nói tôi sẽ sống 103 tuổi, đồng chí hãy nghiệm xem có đúng không nhé”. Sau hôm ấy, tôi đã nhiều lần nói với mọi người về chuyện này. Hôm nay, Đại tướng ra đi đúng tuổi 103. Vẫn biết rằng đời người ai rồi cũng phải kinh qua cái quy luật: Sinh-lão-bệnh-tử, nhưng khi nghe tin Đại tướng về cõi vĩnh hằng, tôi vẫn không khỏi bàng hoàng xúc động và nhớ thương khôn xiết. Với tài năng, đức độ và thiên tài quân sự, Đại tướng ra đi đã để lại niềm tiếc thương không chỉ cho nhiều thế hệ người Việt Nam mà còn cho tất cả những ai yêu quý Đại tướng và yêu chuộng hòa bình trên trái đất này.
Tháng 5 năm 2004, tôi được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phân công tháp tùng và cùng Đại tướng chủ trì hội nghị khoa học nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, có 150 đoàn khách quốc tế tới dự. Đại tướng nói bằng tiếng Pháp và tiếng Nga. Các bài tham luận đều ca ngợi Đại tướng, ca ngợi Quân đội nhân dân Việt Nam, ca ngợi nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là bài học cho Việt Nam mà cho cả nhân loại. Kết thúc hội nghị, các đoàn vây quanh Đại tướng để chụp ảnh lưu niệm và nhiều người hô vang: Điện Biên Phủ, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp!
Vừa qua, nhân dịp kỷ niệm 103 tuổi của Đại tướng, tôi đã giới thiệu cuốn sách Chiến thắng bằng mọi giádo nhà sử học người Anh Ceci B.Curey viết về Đại tướng. Tôi cùng ban tư vấn (gồm Giáo sư Vũ Khiêu, Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Dương Trung Quốc, Giáo sư Lê Văn Lan) phác thảo tượng của các danh tướng Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung và Võ Nguyên Giáp. Ý tưởng của chúng tôi là trong dịp kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-2014) sẽ có một triển lãm về tượng của Đại tướng tại khuôn viên gia đình và một triển lãm ảnh chụp về Đại tướng. Hôm nay, dù Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về cõi vĩnh hằng, chúng tôi vẫn tiếp tục công việc đó để tri ân Đại tướng.
Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ KHQS - NGUYỄN HUY HIỆU

Nhà chính trị đi trước nhà quân sự

QĐND - Đó là cách định nghĩa của Đại bách khoa toàn thư Pháp (1987) về Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Người Việt Nam có thể hiểu đó là một cách nói lên sự thấm nhuần của Võ Nguyên Giáp về một điểm cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh ngay từ những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XX, cụ thể là về mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, nhân dân và quân đội, người và súng, tinh thần chiến đấu và trang bị kỹ thuật. Người trước - súng sau là quan điểm Cụ Hồ đã nhấn mạnh ngay từ những ngày đầu Võ Nguyên Giáp gặp Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Ngày 22-12-1944, tại Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân làm lễ thành lập với 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy.
Hầu hết cán bộ quân sự Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp đều bắt đầu cuộc cách mạng bằng những hoạt động chính trị và khi chuyển sang lĩnh vực quân sự thì một số khá đông đã là đảng viên cộng sản, những cán bộ chính trị mặc áo lính, hoạt động quân sự, nhằm mục tiêu chính trị của Đảng, mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trường hợp điển hình. Ông từng là đảng viên cộng sản, một nhà chính trị nhiều năm trước khi lãnh sứ mệnh cầm quân.
Trong quá trình vận động chính trị quần chúng mà Cụ Hồ gọi là “nhóm lửa”, suốt mấy năm trèo đèo lội suối đem ánh sáng cách mạng đến với đồng bào vùng cao trong liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng, là quãng thời gian ông Giáp nhận thức ngày càng rõ hơn về vai trò cách mạng của quần chúng. Trong đông đảo nhân dân các dân tộc được ông giác ngộ, không ít người đã trở thành cán bộ lãnh đạo ở địa phương, hoặc trở thành chiến sĩ Quân giải phóng sau khi nhận thức được mục đích chính trị của việc cầm súng. Từ đó, yếu tố nhân dân càng “bám rễ” sâu vào tư duy quân sự cách mạng của Võ Nguyên Giáp.
Trải qua nhiều năm kiên trì đến với dân, đến khi cách mạng đã có chỗ đứng chân trong nhân dân rồi, Hồ Chí Minh mới giao cho Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ tổ chức Đội Quân giải phóng. Buổi đó Cụ Hồ dặn: “Dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì không kẻ thù nào có thể tiêu diệt được”. Cho nên, dễ hiểu vì sao bản lĩnh của nhà quân sự Võ Nguyên Giáp trước hết là bản lĩnh của nhà chính trị Võ Nguyên Giáp, người nhận thức đúng đắn về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, nhận thức về mối quan hệ giữa hoạt động quân sự với mục đích chính trị của Đảng, nhận thức về quan hệ cá - nước giữa LLVT với quần chúng nhân dân.
Ngay từ những ngày đầu nhận nhiệm vụ tổ chức quân đội, ông đã dạy cho Đội vũ trang tuyên truyền nhỏ bé mới lọt lòng biết rằng, mọi hoạt động quân sự đều phải nhằm mục đích phát triển phong trào chính trị quần chúng và không được làm tổn hại đến phong trào chính trị quần chúng. Ngay từ buổi đầu, trong Mười lời thề, ông đã dạy cho các chiến sĩ du kích những điều cần làm và những điều cần tránh để duy trì mối quan hệ quân-dân-cá-nước. Trong quá trình chuẩn bị tiến lên khởi nghĩa vũ trang, mọi hoạt động của Đội vũ trang tuyên truyền đều hướng vào mục tiêu chính trị là động viên toàn dân đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật, giải phóng dân tộc. Tuy thời kỳ tiền khởi nghĩa chỉ diễn ra trong vòng gần nửa năm, nhưng khẩu hiệu “Khơi thêm nước cho cá vẫy vùng” do Tổng bộ Việt Minh đề xướng đã giúp cho Đội Quân giải phóng hiểu môi trường chính trị quần chúng quan trọng như thế nào đối với sự tồn tại, phát triển và hoạt động của đội vũ trang. Qua các trang viết của Võ Nguyên Giáp về những năm 1940-1945, cụ thể là các tác phẩm “Khu giải phóng”, “Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc”, người ta thấy nổi lên một điều, đó là yếu tố chính trị quần chúng luôn được ông hết sức coi trọng trong suốt quá trình vận động chính trị quần chúng tiến lên vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền.
Sau Tổng khởi nghĩa, việc xây dựng cơ sở chính trị quần chúng làm chỗ đứng chân cho cách mạng, nơi nương tựa để hoạt động của các tổ chức vũ trang lại được ông tiếp tục coi trọng trong điều kiện mới, điều kiện đất nước đã giành được chính quyền, nhưng ngay sau đó chính quyền non trẻ ở nhiều địa phương không tồn tại trước sức ép từ nhiều phía của các loại kẻ thù. Kiên trì cử các đội vũ trang tuyên truyền lên Tây Bắc ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng để gây dựng cơ sở chính trị quần chúng; gợi ý cho cấp chỉ huy chiến trường Khu 5 phân tán một số đơn vị vũ trang đi vào vùng địch kiểm soát ở Nam Trung Bộ để vũ trang tuyên truyền, tranh thủ nhân dân, duy trì cho được thế “mất đất không mất dân”. Đặc biệt, quan tâm chỉ đạo cuộc đấu tranh để duy trì và phát triển cơ sở chính trị và vũ trang trong vùng sau lưng địch trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, nhất là ở các vùng dân tộc Tây Nguyên, Đông Bắc và Tây Bắc, ở Thượng Lào, ở vùng đồng bào công giáo đồng bằng nam sông Hồng…, tất cả những biện pháp chiến lược đó đều chứng minh sự quan tâm của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến cơ sở chính trị quần chúng trước và trong chiến tranh. Khi quân ta chuyển lên đánh lớn, nhất là khi mở những chiến dịch trong hoặc gần vùng đông dân, bao giờ mục đích chiến dịch cũng có một nội dung quan trọng là tranh thủ nhân dân. Chiến dịch mở ra trong những vùng dân cư đặc biệt, như Tây Bắc, Thượng Lào, Hà - Nam - Ninh, bên cạnh mệnh lệnh quân sự bao giờ cũng kèm theo những điều quy định về kỷ luật dân vận. Điều đó giải thích vì sao khi quân ta về chiến đấu ở vùng như Phát Diệm, đồng bào giáo dân sớm nhận thấy bản chất anh Bộ đội Cụ Hồ khác hẳn những điều mà bà con bị chính quyền tay sai tuyên truyền xuyên tạc và các tầng lớp giáo dân sớm tỏ thái độ đồng tình và ủng hộ kháng chiến. Sau mỗi chiến dịch, trong chỉ thị của Tổng Tư lệnh về củng cố vùng mới giải phóng, bao giờ cũng đề cập đến nhiệm vụ bảo vệ nhân dân, đề phòng địch trở lại khủng bố càn quét, đồng thời với nhiệm vụ nhanh chóng ổn định đời sống chính trị - xã hội của địa phương, cải thiện đời sống nhân dân.
Nhìn trên phạm vi toàn cục, quan hệ quân-dân-cá-nước đã trở thành truyền thống của quân đội và nhân dân ta, trong thời chiến cũng như trong thời bình. Đạt được kết quả đó, ngoài yếu tố có tính quyết định là sự lãnh đạo và giáo dục chung của Đảng và của các tổ chức chính trị trong Mặt trận, việc Tổng Tư lệnh kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp quan tâm chỉ đạo các tổ chức đảng và hệ thống công tác chính trị trong quân đội để giữ vững kỷ luật dân vận có ý nghĩa rất quan trọng để duy trì và củng cố mối quan hệ quân dân đoàn kết giết giặc cứu nước. Điều đó giải thích vì sao, ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, trong tác chiến cũng như trong xây dựng, Bộ đội Cụ Hồ, dưới quyền chỉ huy của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp luôn được nhân dân ủng hộ. Ông đã giáo dục cho quân đội thấm nhuần một chân lý mà Cụ Hồ đã dạy: “Yếu tố chính trị quần chúng là chỗ dựa không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động quân sự nào của quân đội cách mạng, quân đội của nhân dân”.
Trong quan hệ với các nước bạn (Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc) có liên quan đến lĩnh vực quân sự trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bao giờ Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cũng quan tâm đến yếu tố chính trị đối ngoại bình đẳng, hữu nghị, coi trọng tinh thần quốc tế cao cả.
Từ bài học thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, trong “Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng”, khi nói về địa vị và tác dụng của lực lượng chính trị quần chúng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Lực lượng chính trị quần chúng là cơ sở để xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng, của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, là cơ sở để xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng. Nó là chỗ dựa vững chắc cho LLVT nhân dân tác chiến”.
Thành công của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong hơn 30 năm cầm quân, trước hết là thành công của một nhà chính trị, thành công của sự khẳng định hoạt động quân sự phải phục vụ cho mục tiêu giải phóng dân tộc của Đảng, thành công của quan điểm luôn khẳng định sức mạnh của toàn dân là yếu tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Đó đồng thời cũng là thành công của một nhà quân sự thường xuyên quan tâm giáo dục cho toàn quân truyền thống cội nguồn từ nhân dân mà ra và mục tiêu vì nhân dân mà chiến đấu, thường xuyên quan tâm duy trì, củng cố và phát triển quan hệ quân-dân-cá-nước, để quân đội luôn sống trong lòng dân, được nhân dân tin yêu, đùm bọc, giúp đỡ, dù ở tiền tuyến hay hậu phương, thời chiến hay thời bình.
Cụ Luật gia Vũ Đình Hòe, một nhân sĩ trí thức tham gia chính quyền cách mạng ngay từ những ngày đầu, đã nói về một khía cạnh chính trị khác trong con người nhà quân sự Võ Nguyên Giáp. Vũ Đình Hòe và Võ Nguyên Giáp đều là những thành viên của Quốc hội đầu tiên. Trong Chính phủ đầu tiên, Cụ Hòe là Bộ trưởng Bộ Giáo dục, sau đó là Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trong một lần trả lời phỏng vấn của Báo Văn nghệ về Võ Nguyên Giáp cuối năm 2005, Cụ nói: “Chính tư duy chiến lược quân sự - chính trị cùng với lòng nhân ái bao la của Bác Hồ đã thấm vào trí não, tâm can của vị Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, người học trò gần gũi và “ngoan ngoãn” nhất của Bác”.
Điều căn bản nữa cần phải nêu là Võ Nguyên Giáp đã luôn luôn cố gắng noi theo tinh thần đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh, đại đoàn kết vì đại nghĩa, vì chí nhân, cho nên Anh Văn được toàn quân tin yêu và nhờ cậy, được những người trí thức và toàn dân quý mến, kính trọng, được cả thế giới hâm mộ”.
Sử gia nước ngoài khi viết về hai cuộc kháng chiến của Việt Nam và về Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng thường đặc biệt quan tâm đến “chất chính trị trong nhà quân sự Võ Nguyên Giáp”. Điển hình là trường hợp J.Lacutuya (Jean Lacouture). Ông là nhà văn, nhà báo, phóng viên chiến trường, có mặt ở Việt Nam ngay từ những ngày đầu chính quyền cách mạng và là một trong những người được ông Giáp tiếp rất sớm, chỉ ít ngày sau Tổng khởi nghĩa.
Viết về cuộc gặp đầu tiên đầu tháng 2-1946, sau khi nghe Võ Nguyên Giáp nói về quyết tâm chiến đấu vì mục tiêu chính trị của chiến tranh là độc lập dân tộc, J.Lacutuya nhận xét rằng: Ông Giáp nói về “độc lập” như một yêu cầu tối hậu. Ông cho hay, nếu không đạt được, Việt Minh sẽ phát động chiến tranh. “Chúng tôi không cho phép mình dừng bước bởi một hy sinh, bạo lực hay tàn phá”. Ông nhấn mạnh điều này, nên gây một ấn tượng mạnh đối với tôi….
Tại Hội nghị Đà Lạt, J.Lacutuya lại có dịp “tìm hiểu về nhà chính trị Võ Nguyên Giáp”. Sau này, J.Lacutuya viết: “Tại đây, ông lại thể hiện tài hùng biện cao cường của mình trong việc kịch liệt lên án cuộc chiến mà các đơn vị viễn chinh Pháp đang tiến hành ở Nam Bộ. Các cuộc tranh luận của ông với đối thủ của mình là P.Messmer (người sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Đờ Gôn) đã diễn ra cực kỳ gay gắt, nhưng ông biết tiết chế lời lẽ của mình và trong suốt quá trình đàm phán, ông luôn tìm kiếm sự hiểu biết lẫn nhau từ phía Pháp”.
Một chi tiết mà J.Lacutuya tiết lộ, như một khám phá về thiện chí thương lượng của ông Giáp. Mặc dù Hội nghị Đà Lạt đã thất bại, vậy mà như J.Lacutuya tiết lộ: Khi hiệu đính bài viết của mình, chính ông Giáp là người gợi ý cho tôi dùng cụm từ “sự bất đồng ý kiến trong hữu nghị” (Le désaccord cordial) để mô tả Hội nghị Đà Lạt. Năng lực chính khách cũng như chính kiến không khoan nhượng của ông thấm nhuần trong từng câu. Giải thích vì sao hồi đó người ta gọi Võ Nguyên Giáp là “ngọn núi lửa phủ tuyết”, J.Lacutuya viết: “Đó là hình tượng thể hiện sự pha trộn giữa nhiệt tâm cháy rực với những phán quyết lạnh lùng, tạo nên sức mạnh của con người này. Với Giáp, chúng ta cần mô tả thiên tài và niềm say mê của ông. Trong bộ quân phục là một con người nhỏ bé với cái đầu của một con sư tử và vầng trán của một nhà tư tưởng, một con người đã sử dụng bạo lực như nguyên liệu để xây dựng một dân tộc”.
Với bạn bè, nhất là với các nước châu Phi vốn cùng cảnh ngộ thì “con sư tử Võ Nguyên Giáp” lại có những tình cảm chính trị hết sức ưu ái. Chính phủ và nhân dân nhiều nước châu Phi có lòng mến mộ đặc biệt đối với cá nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không chỉ vì tài thao lược của một vị tướng với những bài học chiến lược về chiến tranh giải phóng trong quá khứ, mà còn vì sự quan tâm của nhà chính trị Võ Nguyên Giáp về những vấn đề liên quan đến mối quan hệ hợp tác giữa châu Phi với Việt Nam.
Đại tướng giới thiệu với các đại biểu châu Phi một kinh nghiệm về nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam bằng cách nhắc lại khẩu hiệu hành động mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cho toàn dân Việt Nam: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.
Ông Võ Nguyên Giáp cũng không bỏ lỡ dịp để lý giải cho các vị khách phương Tây-kể cả những người hôm qua còn là kẻ thù của Việt Nam, biết rằng: Hàng chục thế kỷ nay, cả bạn lẫn thù đều không đánh giá đúng tinh thần dân tộc của nhân dân Việt Nam, không đánh giá đúng sức mạnh của dân tộc Việt Nam.
Ngày 23-6-1997, trong cuộc tiếp cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra và một số quan chức quân sự cao cấp Mỹ, một thành viên trong đoàn khách hỏi ông Giáp một câu khiến mọi người chú ý: “Trong 30 năm chiến tranh, vị tướng nào được ông đánh giá cao nhất?” Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời rằng, chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ, còn bất kỳ vị tướng nào, dù có công lao đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Vị tướng mà ông Giáp đánh giá cao nhất là tướng nhân dân. Cũng như tướng Lơcle nửa thế kỷ trước, Ngài cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ và các vị khách Hoa Kỳ khó mà hiểu hết được chiều sâu câu nói của người đối thoại-nhà chính trị lão thành, đồng thời cũng là nhà quân sự số 1 Việt Nam.

TRẦN TRỌNG TRUNG

(*) Theo “Võ Nguyên Giáp - Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - 2010.

Giới quân sự “ngả mũ” trước Đại tướng Võ Nguyên Giáp

QĐND - Đánh giá về tài thao lược của vị “Napoleon Đỏ”, tướng P.Mắc Đô-nan (Peter MacDonald), nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh, từng nhận định: “Từ năm 1944 đến 1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”. Và trên thực tế, không ít các quan chức quân sự một thời bên kia chiến tuyến cũng đã phải “ngả mũ” trước vị Tổng Tư lệnh tối cao Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp ông R.Mắc Na-ma-ra ngày 23-6-1997. Ảnh: AP

Vinh hạnh được làm đối thủ của tướng Giáp
Trước khi được Việt Nam trao trả về Pháp, tướng Đờ Cát-xtơ-ri (De Castries) đã đề nghị cho ông ta được phát biểu vài cảm nhận về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông ta nói: “Tướng Giáp là một người thông minh, dũng cảm, một người giỏi chỉ huy du kích. Ông ấy cũng giỏi về chính trị, về chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi đã thấy rõ điều đó. Nay qua trận Điện Biên Phủ, tôi thấy Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích, mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”.
Khẳng định rằng mình đã làm hết sức mình trên chiến trường và thua cuộc ở đó là do nhiều nguyên nhân nhưng Đờ Cát-xtơ-ri thừa nhận: “Tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn, tài giỏi hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cô-nhi (Cogny) và tướng Na-va (Navarre). Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.
Nằm trong số những sĩ quan Pháp bị bắt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, tướng M.Bi-gia (Marcel Bigeard), khi ấy mới là thiếu tá lính dù, phải thừa nhận tài năng của người từng là đối thủ của mình trên chiến trường: “Ông Giáp đã lãnh đạo quân đội Việt Nam giành được chiến thắng trong một thời hạn thật đặc biệt kéo dài suốt 30 năm, đó là một kỳ tích chưa từng thấy! Đúng vậy, không phải hiện nay mà muôn đời sau, tôi tin rằng cuộc đời và sự nghiệp đầy huyền thoại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mãi mãi là tấm gương, là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam”.
Vị tướng vĩ đại nhất của thế hệ vĩ đại nhất
Sau khi chiến tranh kết thúc, cố Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara), người được mệnh danh là “công trình sư” của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, đã hai lần tới Việt Nam gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp với mục đích tìm kiếm câu trả lời cho những thất bại thảm hại của mình. Trong cuộc gặp mặt lần thứ hai kéo dài một tiếng rưỡi diễn ra ngày 23-6-1997, vốn có những bất đồng về quan điểm, R.Mắc Na-ma-ra đã không ít lần ngắt lời Đại tướng. Tuy vậy, Đại tướng vẫn bình thản và lịch sự, chủ động giành lấy phần lớn thời gian nói rõ rằng, Việt Nam là một dân tộc có tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm hàng ngàn năm nhưng rất mong muốn hòa bình. Phía Mỹ đã đánh lỡ nhiều cơ hội để kết thúc chiến tranh còn Việt Nam thì không bỏ qua bất cứ cơ hội nào. “Mỹ xâm lược Việt Nam là một sai lầm. Mỹ thua là do không hiểu được Việt Nam”, Đại tướng khẳng định. Trước những lập luận rất sắc sảo này, cuối cùng R.Mắc Na-ma-ra không giữ được kiên nhẫn, phải thốt lên: “Thế là ngài lại thắng về thời gian rồi”. Tại buổi gặp gỡ này, tướng C.Cu-pơ (Chester Cooper), cựu thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, đã bày tỏ thái độ một cách chân thành: “Thưa ngài, tôi thán phục ngài từ 20 năm trước. Nay tôi vẫn thán phục”. Trong khi đó, tướng U.Oét-xmo-len (William Westmoreland), nguyên Tổng tư lệnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam, từng tuyên bố Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đã hội tụ được tất cả những phẩm chất làm nên một thống lĩnh quân sự vĩ đại gồm “khả năng quyết đoán, sức mạnh tinh thần, sự tập trung và trí tuệ”.
Nhận xét về vị tướng tài ba, cựu trung tá Thủy quân Lục chiến Mỹ G. Dăm-oan-tơ (James G. Zumwalt) từng tham chiến tại Việt Nam từ năm 1968 đến 1971 nói rằng, sự khiêm nhường dường như là một nét tính cách đặc trưng của Tướng Giáp. “Khi cha tôi (Đô đốc E.Dăm-oan-tơ (Elmo Zumwalt), tư lệnh Hải quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam) gặp ông Giáp vào năm 1994, hai người lính già đã ôm nhau và cùng ngồi nói chuyện chiến tranh như những người bạn cũ”, ông G.Dăm-oan-tơ chia sẻ. Dưới con mắt của một quân nhân chuyên nghiệp, cựu Trung tá Dăm-oan-tơ đánh giá: “Khi nhìn lại con đường mà Đại tướng Giáp đã dẫn dắt một thế hệ người Việt Nam trong thế kỷ 20 giành chiến thắng trước người Pháp, người Mỹ..., tôi chỉ có thể nói rằng, ông ấy là vị tướng vĩ đại nhất thuộc về một thế hệ vĩ đại nhất của Việt Nam”.
VĨNH AN (tổng hợp)

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

Bước đi ! Đừng khóc .


Ảnh avatar face của bạn tôi với ảnh Đại tướng và cờ quốc tang
Dòng người bước đi vào ngôi nhà 30 Hàng Diệu dài mãi , Những con người trang nghiêm cùng nhau đi ,những bóng hình nhạt nhòa dần ,rồi dần vào hư ảnh ,tôi chỉ còn biết đi theo bản năng ,miệng vẫn nói với bạn mà dường như tâm ảnh đang để nơi nào đó ,để vào một quãng thời gian xa xôi của ông tôi ,những người khoét núi lấp sông tạo ra 2 cuộc kháng chiến thần thánh ,nhớ đến cha tôi ,người cha già miệt mài bên trang giấy để lo kiến tạo hạnh phúc cho chúng tôi ,nhớ ,nhớ ,bước đi ,mà lòng nhớ .
Ở nơi đây ,người anh hùng đã sống . Ở nơi đây ,một người Việt Nam đã sống . Ở nơi đây ,cả dân tộc Việt Nam cũng đã từng sống !
Trước bài vị người ,tôi không dừng lại ,không phải chỉ vì không được phép ,mà là tôi không dám dừng lại ,chỉ dừng lại chỉ trong một tích tắt thôi ,có lẽ tôi đã khóc . Không ,tôi không khóc ,tôi không thể khóc ,nước mắt của Nam nhi chỉ hiện lên khi mình bất lực ,khi mình đầu hàng số phận mà ông trời sắp đặt ,như cách đây trăm năm chưa có Đảng hàng triệu triệu người đã từng khóc . Nhưng ,tôi sẽ không khóc , hi vọng rằng sẽ không bao giờ khóc . Bước vội qua bài vị ,lòng tôi tự nhắn nhủ ,sự nhắn nhủ riêng tôi nghe ,riêng tôi biết ,nhưng như là khắc trong đá ,ghim trong vàng . Tôi sẽ không bao giờ nói câu nói ấy ra ,nhưng tôi sẽ đưa điều dó thành sự thật như bao nhiêu người bạn của tôi ,như bao nhiêu thế hệ tiền nhân khác ,như bao nhiêu thế hệ hậu sinh sau này làm để đưa dân tộc Việt Nam đi lên "sánh ngang với các cường quốc năm châu " .
Tôi đã từng nghe :"Ngẩng đầu lên ,nhìn lên trời ,ta sẽ không khóc " nhưng , tôi nghĩ chúng ta cần ngẩng đầu nhìn thẳng vào sự thật , rồi bước đi ,bước thật nhanh ,thật mạnh ,thật vững chắc .
Tôi về qua cầu Long Biên ,bóng sương mù đang phủ dần ,ở phía xa xa ,cầu Chương Dương vẫn tấp nập đèn xe ,dòng sông Hồng đỏ nặng phù xa ,xanh bãi bồi . Tôi về qua cánh đồng quê tôi ,những khoảng ruộng nơi gặt trơ gốc ,nơi còn vàng ruộng , Tôi về qua khu công nghiệp Phố Nối ,ánh đèn sáng rực ,những cồn xưởng reo vang . Tôi nhìn ,tôi nhìn ,và tôi tự nhủ : " Phải bước đi ,phải bước đi ,không thể để giang sơn mà Bác mà Đại Tướng  gắng sức giành cho Độc Lập- Tự Do mà rơi vào tay chúng ta lại không thể kiến tạo hạnh phúc ".
Nguyễn Linh


Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

Ban lễ tang đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ban lễ tang đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1976). Ảnh: TTXVN
1. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Lễ tang.
2. Đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
5. Đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư.
6. Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ.
7. Đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.
8. Đồng chí Ngô Văn Dụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
9. Đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.
10. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ.
11. Đồng chí Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
12. Đồng chí Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an.
13. Đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội.
14. Đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
15. Đồng chí Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương.
16. Đồng chí Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
17. Đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
18. Đồng chí Trần Quốc Vượng, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
19. Đồng chí Lương Ngọc Bính, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Bình.
20. Đồng chí Hoàng Bình Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương.
21. Đồng chí Nguyễn Thái Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
22. Đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
23. Đồng chí Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
24. Đồng chí Thượng tướng Nguyễn Văn Được, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
25. Đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
26. Đồng chí Nguyễn Quốc Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.
27. Đồng chí Nguyễn Thị Thanh Hòa, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
28. Đồng chí Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
29. Đồng chí Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

Mãi mãi tiếc thương Đại tướng

QĐND Online - Dẫu biết rằng, ở tuổi 103, lại suốt 4 năm nằm trên giường bệnh, nên Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ đi xa là điều đã được dự báo từ trước. Thế nhưng, thông tin về sự “ra đi” của Đại tướng vẫn khiến hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên mảnh đất Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng và cả nước nói chung rưng rưng xúc động và tỏ lòng tiếc thương vô hạn. Hình ảnh vị Tổng Tư lệnh của Quân đội nhân dân Việt Nam đã in đậm trong trái tim của mỗi con người...
Sáng 5 – 10, trên khắp các ngõ phố, đường quê, hay trong các đơn vị quân đội, công trường, xưởng máy, hết thảy mọi người đều bàng hoàng khi hay tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đi về cõi vĩnh hằng.
Đại tướng Võ Nguyễn Giáp. Ảnh Trần Hồng, Báo QĐND.
Tuy là ngày nghỉ cuối tuần, nhưng nhà sinh hoạt văn hóa phường Thọ Quang, quận Sơn Trà vẫn đông hơn thường ngày. Cụ Phan Hữu Thạch (73 tuổi), trên tay cầm tờ báo, mắt đỏ hoe, giọng nghẹn ngào: “Ngày gặp Đại tướng trên tuyến đường Trường Sơn năm ấy, tôi thấy anh ấy rất giản dị, gần gũi với mọi người. Anh đến bắt tay tôi và cả Tiểu đội thanh niên xung phong với cử chỉ ân cần như một người cha. Vậy mà… giờ đây Anh ấy đã đi rồi!”.
Trong căn phòng tĩnh lặng trên phố Ngô Quyền, Đại tá Ngô Đức Lô, nguyên Tư lệnh Vùng 3 Hải quân – người có mặt trong thành phần Sở Chỉ huy tiền phương của Quân chủng Hải quân trong chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh, với tư cách là một cựu chiến binh, là người con của huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) – quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trao đổi với chúng tôi, không giấu được xúc động: “Sáng và trưa nay đọc báo, xem truyền hình biết tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về với tổ tiên. Tôi luôn khâm phục tài năng và đức độ của Đại tướng. Ông là người “Anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam, là học trò ưu tú của Bác Hồ kính yêu…".
Dù bận rất nhiều công việc, song Thiếu tướng Trần Quang Phương, Chính ủy Bộ tư lệnh Quân khu 5 cũng dành thời gian để chia sẻ nỗi niềm với chúng tôi. “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếc thương vô hạn, bởi Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng ân tình, có tài thao lược. Đại tướng không chỉ là người tài năng về chính trị, quân sự, mà còn mang trong mình các phẩm giá cao quý của một người chiến sĩ cách mạng kiên trung, tố chất của một vị lãnh đạo dạn dày trận mạc và một tấm lòng nhân ái, suốt cả cuộc đời vì nước, vì dân. Đúng như lời của cố Thượng tướng Trần Văn Trà – nguyên Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đã nói về Đại tướng: “Võ Nguyên Giáp là Tư lệnh của các Tư lệnh, Chính ủy của các Chính ủy”, “là một Tổng tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”. Noi gương Đại tướng, biết ơn Đại tướng – người học trò xuất sắc của Hồ Chủ tịch, cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 5 sẽ vượt lên tất cả mọi khó khăn, gian khổ, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên cường trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu góp phần bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam”.Chiều nay, tôi bắt gặp những hình ảnh hết sức xúc động. Ngay trước Cổng Nhà thờ Chánh tòa TP Đà Nẵng, khá đông người dân không phân biệt già trẻ, tôn giáo, ai cũng chăm chú theo dõi thông tin về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên các ấn phẩm báo chí. Nét mặt họ thể hiện sự buồn phiền và tiếc thương vị tướng tài ba của dân tộc. Không chỉ người già, ngay cả tầng lớp học sinh, sinh viên cũng đều quan tâm tới sự kiện này. Trao đổi với chúng tôi, sinh viên Thảo Hạnh – sinh viên Đại học Kiến trúc tâm sự: “ Ngay từ thời học sinh, qua những tiết học về môn lịch sử và qua lời kể của thầy cô, em đã rất khâm phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông là vị chỉ huy đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân năm xưa. Thân thế và sự nghiệp, đạo đức cách mạng của ông mãi mãi là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ chúng em noi theo…

Báo chí Italy: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người anh hùng của nền độc lập dân tộc Việt Nam

Theo phóng viên TTXVN tại Rome, hầu hết các trang điện tử của những tờ báo lớn ở Italy chiều 4-10 (tức đêm 4-10 theo giờ Việt Nam) đều đồng loạt đăng trang trọng tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời và ca ngợi ông là người anh hùng của nền độc lập dân tộc Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: TL
Trang điện tử của tờ Corriere della Sera, tờ báo hàng đầu Italy, viết rằng Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người anh hùng của nền độc lập dân tộc Việt Nam và là vị tướng đã chỉ huy quân đội đánh bại quân Pháp trong trận Điện Biên Phủ năm 1954 cũng như quân Mỹ trong các trận đánh quan trọng khác vào những năm 1960-1970.
Trang điện tử của tờ La Stampa ca ngợi Tướng Giáp là người anh hùng của tất cả các nước thuộc Phong trào không liên kết. Nghệ thuật quân sự của Tướng Giáp đã giúp Việt Nam giành thắng lợi trước thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tờ La Stampa cho rằng giờ đây, các học viện trên thế giới đều đang nghiên cứu "kiệt tác" của ông – trận chiến Điện Biên Phủ.
Còn theo trang điện tử của tờ La Repubblica, Tướng Giáp là một nhân vật huyền thoại và danh tiếng của ông đã vượt ra ngoài phạm vi của đất nước Việt Nam. Tướng Giáp là tác giả của cuốn “Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân” và tác phẩm này đã có phiên bản tiếng Italy (tựa đề cuốn sách trong tiếng Italy là “Masse armate ed esercito regolare”).

Tóm tắt tiểu sử đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp

QĐND Online  xin trân trọng giới thiệu Tóm tắt tiểu sử đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Phó thủ tướng thường trực Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên lễ đài tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ngày 1-1-1955, nơi hàng chục vạn nhân dân Thủ đô tổ chức mít tinh và tuần hành mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch trở về Thủ đô. Ảnh: TTXVN
.
Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp , tên khai sinh Võ Giáp, bí danh: Văn.
Sinh ngày 25-8-1911, tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Từ năm 1925 đến năm 1926, đồng chí tham gia phong trào học sinh ở Huế; năm 1927 tham gia Đảng Tân Việt cách mạng (một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Năm 1930, đồng chí bị địch bắt và kết án 2 năm tù. Sau khi ra tù, đồng chí tiếp tục hoạt động tuyên truyền, gây cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh. Năm 1936, đồng chí hoạt động trong phong trào dân chủ bán hợp pháp của Đảng ở Hà Nội; là biên tập viên các báo của Đảng: Báo Lao động, Báo Tiếng nói chúng ta, Báo Tiến lên, Thời báo Cờ Giải phóng... Đồng chí được cử làm Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ.
Tháng 6 năm 1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; đồng chí được Đảng cử ra nước ngoài gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Năm 1941, đồng chí về nước, tham gia công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng.
Tháng 12-1944, đồng chí được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Tháng 4-1945, tại Hội nghị Quân sự Bắc Kỳ, đồng chí được cử vào Ủy ban Quân sự Bắc Kỳ. Từ tháng 5-1945, đồng chí là Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng mới, thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân; tháng 6-1945, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng.
Tháng 8-1945, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Tại Đại hội Quốc dân Tân Trào, đồng chí được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam; là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 3-1946, đồng chí là Chủ tịch quân sự, Ủy viên trong Chính phủ Liên hiệp; khi thành lập Quân ủy Trung ương, được cử làm Bí thư Quân ủy Trung ương. Tháng 10-1946, là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy quyền làm Tổng Chỉ huy Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. Tháng 1-1948, đồng chí được phong quân hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam .
Tháng 02-1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Từ tháng 9-1955 đến tháng 12-1979, đồng chí là Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Tháng 9-1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương; được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Tháng 12-1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương; được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V và lần thứ VI của Đảng, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương.
Từ tháng 01-1980, đồng chí là Phó thủ tướng thường trực; từ tháng 4-1981 đến tháng 12-1986, là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó thủ tướng Chính phủ).
Đồng chí liên tục được bầu làm Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.