Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Liên Xô đã làm gì trong chiến tranh Việt Trung


 TPO - Vào năm 1979, Liên Xô đã khẳng định kiên quyết với những thế lực đầy tham vọng: Quân đội và nhân dân Xô Viết sẵn sàng sử dụng các giải pháp cuối cùng để thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình với Việt Nam.
Trong rất nhiều trường hợp khác nhau, các nước phải tiến hành nhưng hoạt động quân sự nhằm giải quyết những vấn đề xung đột chính trị mà các biện pháp ngoại giao thông thường không thể giải quyết vấn đề. Nhưng trong lịch sử đấu tranh, có rất nhiều những tình huống mà những xung đột căng thẳng giữa các nước trên thế giới có thể được giải quyết bằng phương pháp phô diễn sức mạnh quân sự và khả năng sẵn sàng sử dụng sức mạnh đó.
Hơn một lần Liên bang Xô Viết đã sử dụng khả năng biểu dương sức mạnh quân sự để ngăn chặn những thảm họa chiến tranh. Một trong những tình huống đó là năm 1979, Kremlin đã có những hành động quyết liệt biểu dương sức mạnh của các lực lượng vũ trang và khả năng sẵn sàng sử dụng sức mạnh đó để giải quyết những mâu thuẫn chính trị. Và chính sự quyết liệt đó đã ngăn chặn một cuộc chiến tranh lớn ở khu vực Đông Nam Á. Tiền Phong trân trọng giới thiệu bài viết này.
Diễn tập bắn đạn thật – là những hoạt động huấn luyện chiến đấu của các lực lượng vũ trang các nước với mục đích làm tăng khả năng sẵn sàng chiến đấu, khả năng điều hành tác chiến và liên kết phối hợp, đồng thời cũng kiểm tra thử nghiệm vũ khí trang bị phương tiện chiến tranh trên chiến trường. Nhưng trên thực tế diễn tập có bắn đạn thật là biểu dương sức mạnh quân sự nhằm mục đích răn đe, ngăn chặn hoặc thể hiện khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang. Đồng thời, diễn tập cũng là phương thức nhằm đưa các đơn vị quân đội vào trạng thái sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến tranh.
Một trong những yếu tố nhanh chóng làm tỉnh lại những nhà chính khách đã mê muội bởi tham vọng chính trị, với sự tự tin thái quá về khả năng của mình, đó là cho họ thấy được sức mạnh quân sự mà trong trường hợp họ vẫn không tự nhìn nhận lại tình huống, họ sẽ phải đối đầu trực diện. Thực hiện được điều đó thì phô diễn sức mạnh quân sự phải thật sự hiệu quả.
Kinh nghiệm phô diễn sức mạnh quân sự nhằm đạt được mục đích chính trị, thông thường nước Mỹ hay nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn. Nhưng trong thực tế đấu tranh trên thế giới, Liên bang Xô viết vào năm 1979 đã triển khai sức mạnh quân sự của mình một cách quyết liệt và hiệu quả, khiến cho một cường quốc trên thế giới như Trung Quốc buộc phải chùn tay, còn cả thế giới nín thở với sự khủng khiếp chờ đợi ngày “D”.
Xung đột biên giới năm 1979
Sau khi quân tình nguyện Việt Nam cùng với các lực lượng yêu nước Campuchia tiến hành các chiến dịch quân sự chống lại lực lượng quân sự Khơ me Đỏ và chính quyền Pol Pot. Sức ép mọi mặt lên nhà nước Việt Nam ngày càng tăng cả về ngoại giao, kinh tế, quân sự...
Trên tuyến biên giới phía bắc Việt Nam, lực lượng đối phương đã triển khai một tập đoàn quân: Thê đội một 15 sư đoàn bộ binh, thê đội 2 – 6 sư đoàn dã chiến. Dự bị chiến dịch có 3 sư đoàn. Tổng thể cụm quân lực triển khai các hoạt động tác chiến trên biên giới có thể tăng cường đến 29 sư đoàn. Rạng sáng ngày 17 tháng 2, đội quân khổng lồ này ồ ạt tấn công trên toàn tuyến...
Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 (theo cách gọi của người Việt Nam) chính thức nổ ra...
Năm 1979. Các trung đoàn máy bay chiến đấu từ lãnh thổ của Ucraina và Belarussia cơ động di chuyển đến sân bay của Mông cổ
Năm 1979. Các trung đoàn máy bay chiến đấu từ lãnh thổ của Ucraina và Belarussia cơ động di chuyển đến sân bay của Mông cổ. Ảnh: Cơ sở dữ liệu “VKO” Matxcova
Liên bang Xô Viết quyết định thực hiện sứ mệnh vô cùng khó khăn trong điều kiện tình huống phức tạp và nguy cơ bùng nổ chiến tranh trên diện rộng – thiết lập lại sự công bằng và hòa bình trên bán đảo Đông Dương bằng phương pháp biểu dương sức mạnh quân sự. Nhưng với những cái đầu nóng, thực hiện giải pháp nửa vời và không quyết liệt là không thể, mà còn thúc đẩy quốc gia mang tư tưởng nước lớn muốn 'dạy một bài học' cho nước khác tiến hành cuộc chiến tranh ác liệt hơn. Matxcơva đã quyết định hành động rất cứng rắn và quyết liệt ngay từ ban đầu.
Cuộc diễn tập lớn nhất trong lịch sử quân sự thế giới
Các hoạt động biểu dương sức mạnh và ý chí được quyết định vào đầu tháng 3 năm 1979. Trong giai đoạn từ ngày 12 đến ngày 26 tháng 3 ( với mục đích tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc do những hành động gây chiến chống lại nước láng giềng) theo quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên xô, trên tất cả các quân khu vùng biên giới phía Đông, trên lãnh thổ Mông Cổ và trên biển Thái bình dương tiến hành cuộc diễn tập hiệp đồng quân binh chủng và diễn tập hải quân có sử dụng đạn thật.
Trong cuộc diễn tập lớn nhất trong lịch sử quân sự có sử dụng lực lượng của 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân. Quân số tham gia diễn tập lên đến 200 nghìn quân nhân, 2600 xe tăng, 900 máy bay và 80 chiến hạm. Cuộc diễn tập bắt đầu từ thời điểm động viên lực lượng và đưa các đơn vị thường trực chiến đấu từ thường xuyên lên toàn bộ. Từ lực lượng dự bị động viên điều động 52 nghìn quân nhân dự bị động viên hạng 1, động viên từ các cở sở thuộc ngành Nông nghiệp hơn 5 nghìn xe ô tô các loại.
Những đợt diễn tập lớn nhất được thực hiện tại Mông Cổ, trong diễn tập có sự tham gia của 6 sư đoàn BBCG và Tăng thiết giáp, 3 trong số các đơn vị được điều động từ Siberia và Zabaikalia. Ngoài ra trên lãnh thổ Mông Cổ tham gia diễn tập có 2 lữ đoàn, 3 sư đoàn không quân chiến trường, các đơn vị và phân đội đặc chủng tăng cường.
Ngoài ra, cũng trong giai đoạn đó, đồng thời tiến hành các hoạt động diễn tập thực binh của các lực lượng trên vùng Viến đông và Đông Kazakhstan, có sự tham gia của các đơn vị binh chủng hợp thành và các đơn vị không quân, phối hợp với lực lượng Biên phòng.
Trong tiến trình diễn tập đã thực hiện nội dung liên kết phối hợp giữa các lực lượng. Các đơn vị và phân đội trong điều kiện khí hậu và môi trường khắc nghiệt đã tiến hành cơ động trên khoảng cách rộng lớn, từ Siberia đến Mông Cổ (hơn 2000 km).
Các đơn vị được tổ chức biên chế thành đơn vị chiến đấu ngay trên tầu hỏa, được vận chuyển bằng đường không. Cụ thể, sư đoàn ĐBĐK từ Tula được vận chuyển vào khu vực Chita trên quãng đường dài 5,5 nghìn km bằng máy bay vận tải quân sự một đợt bay trong thời gian 2 ngày. Các trung đoàn máy bay chiến đấu từ lãnh thổ của Ucraina và Belarusia được cơ động trực tiếp đường không đến các sân bay của Mông cổ.
Trên những khu vực biên giới với Trung Quốc, các đơn vị phòng thủ biên giới triển khai phác thảo các kế hoạch tổ chức phòng ngự, đánh chặn các đòn tấn công xâm phạm khu vực biên giới, kế hoạch phản kích các đòn tấn công và kế hoạch phản công.
Trên các vùng biển phía Đông và Nam Trung Quốc có gần 50 chiến hạm của hạm đội Thái Bình dương, trong đó có 6 tầu ngầm, tiến hành các hoạt động sẵn sàng chiến đấu và đồng loạt triển khai diễn tập các hoạt động tác chiến nhằm tiêu diệt lực lượng hải quân đối phương. Riêng vùng biển Primorie tiến hành diễn tập đổ bộ đường biển.
Trên các vùng biển phía Đông và Nam Trung Quốc có gần 50 chiến hạm của hạm đội Thái Bình dương, trong đó có 6 tầu ngầm đang thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu
Trên các vùng biển phía Đông và Nam Trung Quốc có gần 50 chiến hạm của hạm đội Thái Bình dương, trong đó có 6 tầu ngầm đang thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.
Một trong những mối quan tâm đặc biệt là kinh nghiệm triển khai các cụm quân công kích chủ lực của Lực lượng Không quân trên biên giới với Trung Quốc, do đặc thù có ưu thế vượt trội về không quân, như một phương tiện tác chiến tầm xa, “phi tiếp xúc”. Trong giai đoạn ngày nay sẽ là yếu tố quan trọng làm nguội đi những cái đầu nóng của người láng giềng đầy tham vọng mà không tự lượng sức mình.
Theo các kế hoạch diễn tập, đã tiến hành tổ chức biên chế các cụm chủ lực hàng không công kích của các trung đoàn không quân trên các quân khu gần biên giới Trung Quốc. Các tập đoàn máy bay chiến đấu chuyển sang vị trí đóng quân cố định trong khu vực miền Đông, không chỉ là từ các quân khu lân cận, mà cả từ Pricarpathian trên quãng đường bay dài tới 7000km trong vòng hai ngày.
Vấn đề không phải là vài chục chiếc máy bay chiến đấu, được rút ra từ các phân đội bay sẵn sàng chiến đấu thường xuyên, mà là các trung đoàn bay đầy đủ theo biên chế. Cùng với các máy bay chiến đấu, các máy bay vận tải vận chuyển luôn cả các đơn vị hậu cần kỹ thuật, các trang thiết bị, kỹ thuật dự trữ và cơ sở vật chất dự phòng theo biên chế.
Có những thời điểm trên không trung cùng lúc bay hàng chục trung đoàn không quân chiến trường. Ngay sau khi các đơn vị không quân hạ cánh, các đơn vị và phân đội không quân lập tức nhận nhiệm vụ và triển khai tham gia huấn luyện diễn tập. Trong quá trình tiến hành các hoạt động chuyển quân và diễn tập chiến đấu tiến công, các kíp lái đã cơ động hơn 5000h, sử dụng hơn 1000 quả bom và tên lửa.
Một khối lượng khổng lồ vũ khí trang bị, phương tiện chiến đấu, cơ sở vật chất, vận chuyển từ Liên bang Xô viết, đã giải quyết toàn bộ vấn đề về trinh sát đường không của địch trên lãnh thổ Việt Nam. Một bộ phận không quân đảm bảo vận tải trên lãnh thổ Việt Nam. Thành quả và khối lượng không thể tưởng tượng được của hàng không vận tải quân sự đã thực hiện trên cầu hàng không được thiết lập giữa CCCP và Việt Nam.
Trong khuôn khổ chương trình diễn tập và vận chuyển khí tài chiến đấu trong không đầy một tháng đã tiến hành cơ động 20 nghìn quân nhân của lực lượng vũ trang Việt Nam, hơn 1000 đơn vị (unit) trang thiết bị chiến đấu, 20 máy bay quân sự và máy bay trực thăng, hơn 3 nghìn tấn vũ khí trang bị, đạn và cơ sở vật chất phục vụ chiến tranh.
Liên bang Xô Viết đã thực hiện sứ mệnh cao cả của mình, bằng sự giúp đỡ của tinh thần đồng chí, tăng cường sức mạnh quân sự cho quân đội nhân dân Việt Nam bằng giải pháp cung cấp khí tài quân sự. Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc xung đột vũ trang đến tháng 3 năm 1979 theo đường vận tải biển đã chuyển đến Việt Nam hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp, xe bộ binh cơ giới, 400 khẩu pháo và súng cối, 50 tổ hợp pháo phản lực Grad BM-21, hơn 100 khẩu pháo phòng không, 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai và hàng nghìn tên lửa, 800 súng chống tăng RPG-7, 20 máy bay tiêm kích.
Ngoài vũ khí trang bị, Liên bang Xô Viết còn cung cấp các hệ thống trang thiết bị đặc chủng và các dây truyền sửa chữa xe máy công trình phục vụ bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị, phương tiện chiến tranh. Tất cả các trang thiết bị, phương tiện chiến tranh và hệ thống sửa chữa, bảo hành trang thiết bị đi cùng đó đều được chuyển đến trong vòng một tháng. Vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật đều trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu và có thể đưa vào chiến đấu được ngay. Toàn bộ trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh được kiểm tra bởi các đoàn kiểm tra kỹ thuật nghiêm khắc nhất, để chuẩn bị đã điều động các chuyên gia, trong thực tế đã khai thác sử dụng triệt để các trang thiết bị đó và có kinh nghiệm sâu sắc về khai thác sử dụng.
Như vậy, các phương tiện chiến đấu, từ các phương tiện vận tải, không cần có sự chuẩn bị bổ sung, có thể đưa thẳng vào chiến trường. Đây thật sự là một kỳ tích của hệ thống hậu cần, kỹ thuật, vận tải của quân đội Xô viết cả về tốc độ cung cấp và vận tải trang bị, số lượng vũ khí trang bị, khả năng sẵn sàng chiến đấu của vũ khí trang bị khi cơ động trên hàng chục ngàn km đường biển.
Trong thời gian diễn ra cuộc tập trận tổng lực của quân đội Vô Viết, người Trung Quốc căng thẳng theo dõi mọi diễn biến và có thể đánh giá được, thật sự họ đang ở trong một tình huống nghiêm trọng như thế nào? Đến mức họ không dám đưa lực lượng quân đội của họ từ vị trí đóng quân ra biên giới Xô – Trung.
Ngoài biên giới, các phương tiện thông tin đại chúng tập trung toàn bộ sự chú ý, theo dõi và đưa ra những phỏng đoán về cuộc diễn tập quân sự, lớn nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại, diễn ra trong khu vực châu Á. Các hoạt động diễn ra rất quyết liệt, theo đúng thực tế chiến trường chứ không hề có cảm giác “tình huống giả định, một bước tiến – hai bước lùi”. Và áp lực chiến tranh nặng nề đè lên thế lực hiếu chiến, buộc họ phải suy nghĩ tỉnh táo và kiềm chế tối đa..
Trữ lượng dầu, tiêu hao trong thời gian thực hiện các hoạt động diễn tập và giúp đỡ Việt nam, Bộ quốc phòng Liên Xô phải phục hồi lại dự trữ trong vòng hai năm.
Không đạt được những mục tiêu chính trị, tổn thất nặng nề về binh lực, ngày 5 tháng 3 năm 1979, Bộ máy lãnh đạo nước lớn ở châu Á quyết định rút quân khỏi lãnh thổ láng giềng. Quyết định đó bị thúc đẩy bởi hàng loạt các yếu tố chính trị và quân sự, bất ngờ và choáng váng trước sự kiên cường và sức mạnh của Việt Nam và một phần có thêm sự ủng hộ kiên quyết của Matxcơva đối với Hà Nội.
Liên Xô yêu cầu ngay lập tức chấm dứt hành động xâm lược vô nhân đạo, khả năng sẵn sàng tiến hành các hoạt động quân sự mạnh nhất trên khu vực phía Đông; những mâu thuẫn và bất đồng chính kiến ngay trong nội bộ nhà cầm quyền nước lớn kia; sự phản ứng mạnh mẽ của thế giới tiến bộ và yêu chuộng hòa bình; sự xuất hiện rõ nét những điểm yếu trong công tác huấn luyện và tiến hành các chiến dịch, thực hành các trận đánh của lực lượng sĩ quan chỉ huy quân đội PLA; trong biên chế các loại vũ khí, trang thiết bị hiện đại, phương tiện chiến tranh, khó khăn nghiêm trọng trong công tác vận tải cơ sở vật chất, hậu cần kỹ thuật.
Các cuộc tấn công chấm dứt từ ngày 20 tháng 3 bắt đầu rút quân trên toàn bộ các hướng chủ yếu. Cuộc rút lui được che chắn bởi hỏa lực dữ dội của pháo binh và các cuộc tấn công nghi binh. Trong quá trình rút quân, PLA sử dụng triệt để hỏa lực ngăn chặn của pháo binh, súng cối, gài mìn trên các tuyến đường, phá hoại cầu cống, hủy diệt các khu nông trại, hợp tác xã, làng mạc và khu dân cư.
Cuối tháng 3, Trung Quốc công khai tuyên bố đã rút hoàn toàn quân đội nhưng cuộc đấu tranh giằng co giữa đôi bên còn kéo dài đến tận năm 1989 mới chấm dứt.
Các hành động chính trị quân sự quyết liệt của Liên xô, được thực hiện dưới hình thức chuẩn bị quân sự toàn diện cho cuộc tấn công vào lãnh thổ Trung Quốc, đã đạt được những kết quả mong muốn về chính trị.
Cuộc diễn tập đã đạt được những mục tiêu quân sự cần thiết. Sức mạnh quân sự của Liên bang Xô Viết phô diễn trong cuộc tập trận bắn đạn thật quy mô lớn là một yếu tố đã góp phần chấm dứt những mưu toan nước lớn, những ý đồ trong vai trò “anh cả” và tham vọng điều khiển châu lục, buộc Trung Quốc nhìn lại ngay chính lực lượng quân sự của mình và những tham vọng của một "đại quốc".
Việt Nam đã tăng cường đáng kể sức mạnh quân sự, đủ để bảo vệ đất nước và đường lối chính trị độc lập của mình trên trường thế giới.
Quân đội Liên bang Xô Viết đã chứng minh được khả năng sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đáp ứng được những yêu cầu tác chiến hiện đại và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
Trịnh Thái Bằng
(Chuyên gia Đại học Kỹ thuật Quân sự Kiev, hiện công tác tại Bộ GD&ĐT; Nguồn: VKO - Bộ Quốc phòng LB Nga)

Ký ức đám cưới ngày 17.2.1979 của con trai Tổng bí thư Lê Duẩn

(TNO) Hôm nay, 17.2.2014, đúng 35 năm ngày mở đầu cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền biên giới phía Bắc, cũng là kỷ niệm 35 năm ngày cưới của tôi.


Chú rể Lê Kiên Thành và cô dâu Nguyễn Thị Tú Khanh
trong đám cưới ngày 17.2.1979 - Ảnh tư liệu gia đình
 
Năm 1979, tôi 24 tuổi, 7 năm quân ngũ và bắt đầu làm việc tại Viện kỹ thuật không quân.
Năm 1979, đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ được bốn năm. Có thể lớp trẻ bây giờ khó mà hình dung nổi bối cảnh đất nước lúc đó nhưng tôi cũng không thể nói gì cho đủ nghĩa hơn bằng ba chữ: Rất khó khăn! Hồi đó, bộ đội như chúng tôi được phát mỗi tháng 21 kg gạo nhưng vẫn đói bởi thiếu chất. Hồi đó, mỗi năm, mỗi người dân khó có nổi một bộ quần áo mới. Hồi đó, mẹ tôi làm ở Ban tuyên giáo An Giang, thỉnh thoảng lại phải “cứu viện” chất đạm cho các con, khi thì gửi ít tôm khô, hoặc các loại mắm Nam Bộ. Những đứa con miền Bắc của bà tập quen ăn mắm từ những ngày thiếu mặc, đói ăn đó.
Đầu năm 1979, khi quyết định sẽ cưới vợ, tôi vào An Giang thăm mẹ. Bà, người phụ nữ nhiều năm xa chồng con, biền biệt chiến trường có vẻ như chưa hề được sống một ngày của thời bình. Bà cho tôi xem những bức ảnh chụp những người dân bị Pol Pot giết hại. Lần đầu tiên, trong đời, tôi nhìn thấy hình ảnh những con người bị giết một cách khủng khiếp và man rợ như thế. Hàng chục, hàng trăm người đều chết cùng một tư thế: Miệng há ra, mắt mở man dại. Mẹ tôi giải thích họ bị đâm bằng những que nhọn từ hậu môn lên đến đỉnh đầu...
Năm 1979, trước ngày 17.2, những người lính chúng tôi đã được phổ biến về những va chạm lớn trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.
Nói như thế để nhắc lại rằng, ở thời điểm đó, đất nước chúng ta ở vào thời điểm vô cùng khó khăn. Thiếu, đói... chỉ là yếu tố rất nhỏ trong 2 chữ KHÓ KHĂN đó.
Thế nhưng, cũng sẽ chẳng ai hình dung nổi, khi còn thiếu mặc và đói ăn đó, chúng tôi được giao nhiệm vụ thử nghiệm chế tạo máy bay...
Ngày 16.2, báo động cấp 1 toàn quân được chuyển xuống cấp 3.
Sáng thứ bảy,17.2.1979, Trung Quốc tấn công trên toàn tuyến biên giới.
Tối hôm đó, đám cưới của tôi vẫn diễn ra. Vẫn gần đông đủ những cán bộ cao cấp: Trường Chinh, Tố Hữu, Đại tướng Văn Tiến Dũng... Gọi là đám cưới nhưng thực ra thì cũng là một bữa tiệc nhà có chút rượu, trà thuốc và kẹo. Tôi thoáng thấy sự căng thẳng trên gương mặt của những lãnh đạo đơn vị và quân chủng không quân.
Cha tôi - Tổng bí thư Lê Duẩn - và các lãnh đạo cao cấp vẫn nói chuyện bình thường, không nhắc gì về những gì đang diễn ra ở biên giới. Đặc biệt, nét mặt cha tôi rất bình thản, không hề để lộ (hoặc có thể không có) cảm giác âu lo hay căng thẳng gì. Cũng có thể nhờ thế, chỉ vài chục phút sau khi bắt đầu hôn lễ, không khí căng thẳng trong nhóm sĩ quan quân đội được giải tỏa, trở lại bình thường. Hôm sau, một người bạn binh ngũ nói với tôi: “Hôm qua thấy đám cưới vẫn diễn ra, thấy mọi việc vẫn bình thường, và đặc biệt, nhìn nét mặt của ông già mày, bọn tao tin Trung Quốc chẳng đánh đến Hà Nội được đâu...”.
Tôi không bao giờ tưởng tượng rằng mình sẽ có một đám cưới như trong nhiều bộ phim mà mình từng xem thời niên thiếu: Sau đám cưới, chú rể trở về ngay đơn vị...
Ngay sau ngày cưới, tôi trở về đơn vị và bắt đầu cuộc sống của người lính thời chiến tranh. Thỉnh thoảng chủ nhật vợ tôi đến thăm chồng; khi ra về mắt đỏ hoe, làm tôi thấy thương cảm vô cùng!


Những người tham gia thiết kế, chế tạo chiếc máy bay Việt Nam đầu tiên TL-1.
Từ trái qua phải: Lê Kiên Thành, Trần Mạnh Chung, Nguyễn Văn Hải, Bùi Thanh Châu.
Đây là những ngày bay thử trên sân bay Hoà Lạc - Ảnh tư liệu gia đình
Lúc đó, nghe nói rằng, chúng ta đã chuẩn bị cho một cuộc chiến bằng không quân để bảo vệ biên giới.
Thế nhưng, điều đặc biệt là những ngày tháng đó, Hà Nội vẫn bình thường. Bình thường trong một cuộc chiến hết sức không bình thường. Khi tiếng súng đã nổ ra ở biên giới nhưng mấy tháng sau thì kết thúc, người Hà Nội điềm tĩnh pha chút tự hào kín đáo nhìn lại: Trung Quốc đã không thể kéo dài cuộc chiến và không thể đánh đến Hà Nội...
Cha tôi còn nói: Nếu theo lẽ bình thường, Trung Quốc không nên đánh Việt Nam...
Nhưng có lẽ người Việt Nam là vậy, một khi điều bất bình thường nhất đã xảy ra, họ bình thản đón nhận.
Và tới năm 1980, chiếc máy bay đầu tiên do người Việt Nam tự thiết kế và chế tạo mang tên TL-1 đã bay trên bầu trời Tổ quốc. Năm 1981, đứa con trai đầu lòng của tôi ra đời, tôi đặt tên là Lê Kiên Dũng.
Và cũng là bình thường khi kỷ niệm 35 năm ngày cưới, tôi không thể quên, ngày cưới của mình trùng với ngày nổ ra chiến tranh biên giới. Tất nhiên không nên ôm chặt những chuyện không vui của quá khứ nhưng hãy hiểu quá khứ để nhìn về tương lai một cách chuẩn xác hơn!

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Nguyễn Quang A, Nguyễn Lân Thắng : Yêu nước bằng miệng và bằng máu

Ngày hôm nay , khi các sinh viên - thanh niên Việt Nam , gần 2 vạn người đi hiến máu trong ngày hội xuân hồng , thì ở đâu đó cạnh khu thắng cảnh Hồ Gươm , có những kẻ hỗn hào đang kêu gào nhảm nhí !
Gửi lời đến thằng Nguyễn Quang A của chúng mày , lần sau nếu còn chúng ta sẽ đến !!!
đấy chính là lời nói của một cựu chiến binh đã từng tham gia chiến tranh biên giới phía Bắc , lời nói của những Anh hùng Việt Nam đã từng đổ máu hi sinh cho dân tộc ! Còn những người kia thì làm sao ? Những kẻ to mồn đi biểu tình như thế nào ? Hỏi đơn vị không nói , ở Cao Bằng , Lạng Sơn hay Hà Giang không nói , còn có cả những bạn trẻ vô cùng nhiệt tình hô to mồn lên , nhưng than ôi chẳng biết chút gì về lịch sử , hỗn láo vô lễ với những cựu chiến binh đã từng chiến đấu trực tiếp trên sa trường . Những kẻ chỉ biết chơi Đột Kích , chơi CS , chỉ biết Đế chế War3 , EE thì làm sao có thể biết được những gì khó khăn giản khổ . Những người sinh ra trong khi đất nước đã thống nhất , đã sạch bóng quân thù làm sao có thể biết được những hệ quả gì khi chiến tranh nổ ra . Chỉ có những con người gặm lương khô trên chiến hào , ăn bo bo lao động kiến quốc mới hiểu được nỗi khổ đó .
Thật đau xót cho một người luôn miệng tự nhận là học giả lại luôn miệng tỏ ý phủ nhận những câu nói của những con người anh hùng , những chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng .
Tôi thấy kì lạ thay cho bạn trẻ đã tranh cãi rất nhiệt tình ngay từ những giây đầu tiên với những bậc trưởng bối rồi phán một câu xanh rờn :Trung Quốc cấm vận Việt Nam thì vui quá đỡ phải ăn đồ độc ??? Nếu bạn nói đến câu đó thì đó chính là nỗi xấu hổ sỉ nhục của nhân dân Việt Nam nói chung và của giới trẻ Việt Nam nói riêng , vì sao ? Bởi lẽ chỉ những kẻ thất học mới nói đến câu ấy , chỉ những kẻ vô tri mới nghĩ đến câu ấy . Người Việt Nam không phụ thuộc vào người Trung Quốc , nhưng chúng ta cần Trung Quốc để đạt được những tham vọng lớn hơn , như chúng ta cần Mỹ , cần EU ,cần Nhật Bản , như nội dung tiên quyết khi chúng ta nhắc đến lúc mở cửa : Làm bạn với cả thế giới này .
Bạn đó nói đến câu đó , vậy bạn có bao giờ nghĩ đến các nước trên thế giới liệu có dám chơi với Việt Nam khi buộc phải lựa chọn giữa Việt Nam và Trung Quốc hay không ? Tôi nghĩ là không , cũng y như thế giới đã quay lưng với Triều Tiên khi Triều Tiên bị Mỹ cấm vận vậy . Chúng không còn nhỏ như Cu ba , chúng ta không có dầu mỏ như Vê Nê Xu ê Na , I ran , chúng ta không có gì hết đủ để quyến rũ không thể từ bỏ với các quốc gia khác để họ quyết định ở lại chống lại sự cấm vận của TQ.
Nhật Bản quay lưng với Hàn QUốc và Huyndai ra đời , nhưng lúc đó Mỹ đủ mạnh để kháng lại TQ , giờ đây , trước chủ nợ lớn nhất của mình , liệu Mỹ có định làm gì ???
Nguyễn Lân Thắng trước và sau cuộc biểu tình
Chúng ta nhìn thấy buổi lễ tưởng niệm trang nghiêm là thế mà cậu công tử nhà họ Nguyễn Lân xem như là một buổi ca nhạc , hớn hở chụp ảnh . Có lẽ anh ta không nghĩ rằng có mặt của những cụ Cựu Chiến Binh , cũng có lẽ anh ta có thể tưởng được rằng các cụ sẽ không chấp cái hành động giấu trời qua biển này của anh ta . Than ôi , trời không ủng hộ kẻ gian xảo , tất cả những mưu tính của Nguyễn Lân Thắng , Nguyễn Quang A đã vấp phải hòn đá ngang đường ,không ,phải là chiến hào kiên cố bởi những con người luôn tin tưởng vào sự thật và luôn tìm đến sự thật .
Khi được hỏi rằng tại sao chỉ tổ chức kỉ niệm 35 năm chiến tranh biên giới phía Bắc mà không đả động gì đến những người anh hùng đã hi sinh trong chiến tranh biên giới tây nam , họ nói rằng : tổ chức cái này trước , sau mới tổ chức đến cái kia . Ôi thôi , nếu họ muốn tổ chức thì phải tổ chức từ năm ngoái , sao bây giờ mới tổ chức hả trời , hay họ định tổ chức 36 năm cho đẹp ngày . Hay cái gì dính đến TQ thì mới nhận được tiền biểu tình ? Hay họ nhận được tiền của bọn Khơ Me đỏ lưu vong để tránh nói đến những điều phạm húy kia ?
Thấy sức mạnh của các cựu chiến binh , Nguyễn Quang A tìm đường đào tẩu như 35 năm trước đã từng làm 
Trong lúc những kẻ như Nguyễn Quang A  , Nguyễn Lân Thắng , cậu nhóc chém gió đang mải mê chém gió , đanh mải mê cãi cùn , đang mải mê ngụy biện trước những câu nói sắc bén và chí lý của các CCB , thì ở Mỹ Định , hàng vạn thanh niên Việt Nam anh hùng đang hiến dang máu đỏ vì Việt Nam khỏe mạnh hơn .
Hình ảnh đau đớn vì sự đối lập 
Sức mạnh của sư đoàn kết chính là cố gắng hết sức vì Việt Nam
Dòng người trên không phải đến Hoàng Diệu để gặp đại sự TQ , không phải đến hồ gươm biểu tình , họ đến tương lai của chúng ta . Lòng yêu nước không phải thể hiện ở mồn ai to hơn , giọng ai khỏe hơn hay ai văng tục chửi bậy hơn ,lòng yêu nước thể hiện ở việc ai cống hiến nhiều hơn cho đất nước này . Than ôi , biết bao nhiêu người đã kêu gào chống TQ lại không có một ai , tuyệt nhiên không có một ai làm công việc vinh quang này , yêu nước bằng miệng dễ lắm , nhưng muốn bắt  phải yêu nước bằng máu thì khó vô cùng , dường như số phận đã sắp đặt là phải hút máu nhân dân rồi nhỉ , Nguyễn Quang A !
Nguyễn Linh

Tìm hiểu về Ải Nam Quan qua một vài tài liệu

Hình Nam Quan trên chụp từ hướng Trung Quốc về Việt Nam


1. Ý nghĩa các danh từ Quan, Ải  và Ca

Theo một tài liệu bằng tiếng Pháp, dịch từ ba trang mang số 15, 16 và 17 ở quyển thứ nhứt của bộ Long Châu ký lược (Longtcheou Ki lio – Abrégé des Anales de Longtcheou), thì người Hoa sử dụng đến ba danh từ khác nhau để chỉ cửa ngõ thông thương giữa hai nước Việt-Trung. Ðó là: QUAN, ẢI và CA (hay Tạp). [Long Châu là một châu quan trọng ở biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây, phủ Thái Bình, về phía Ðông giáp châu Bằng Tường, giáp với Việt Nam về phía Bắc Lạng Sơn và phía Ðông Nam tỉnh Cao Bằng]. Long Châu ký lược là sơ lược về lịch sử ở vùng Long Châu. Theo tài liệu này, số cửa ngõ thông thương từ Long Châu sang Việt Nam gồm có 2 cửa “QUAN”, 14 cửa “ẢI” và 3 cửa “Ca” (thời nhà Thanh còn gọi là “thủ tạp” để chỉ các nơi canh phòng). Hai cửa QUAN là Bình Nhi Quan và Thủy Khẩu Quan . 14 cửa Ải là Yêm Bố 淹 布 (có bộ “khẩu”  đứng trước chữ “bố”), Long Sương , (Ná Lang 那 懶,), Cảm Môn 敢 門, (Na Tuyết ), Na Duệ  (Bản Khô ), Khiếu Canh 叫 更, (có bộ “sơn” 山 trên chữ “canh”) (Bản Ma ), Bế Thôn , Na Hoài  (Na Ai 那 哀), Ná Hà 那何, Long Mính  (Na Thông那), Hợp Thạch  (Long Cống 龍 貢). Ba cửa CA là Hồ Tông , Khiếu Khâm 叫欽 và Bách Bố.

Như vậy có những khác biệt, ngoài cách viết, về ý nghĩa của QUAN, ẢI và CA. Cả ba cùng có ý nghĩa là cửa thông thương giữa hai nước nhưng chúng khác nhau ở tầm quan trọng. Thật vậy, trong số các ngõ thông thương sang Việt Nam, từ Long Châu, hai ngõ quan trọng nhất là Bình Nhi và Thủy Khẩu. Theo thứ tự sắp xếp hành chánh và theo mức độ nhân sự qua lại, các cửa “Quan” có tầm quan trọng hơn hết, sau đó là cửa “Ải”, cuối cùng là cửa “Ca” hay “Tạp”. Cửa “Ca” là một cửa biên giới thường xuyên bị đóng. Một ghi nhận, Bình Nhi Quan và Thủy Khẩu Quan đều là hai cửa chặn hai con sông. Cửa Bình Nhi ở trên sông Kỳ Cùng và cửa Thủy Khẩu ở trên sông Bằng Giang. Tuy nhiên, Nam Quan (thuộc châu Bằng Tường) tọa lạc trên trên “la route mandarine”, tức quan lộ, là cửa thông thương chính thức giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Sứ thần chính thức của hai bên hầu như đều đi qua cửa này. Như thế, “quan” chỉ chung cho cửa thông thương trên bộ hay trên sông.

Dựa trên logic này, có thể người Việt ta gọi khác người Hoa về những địa danh do người Hoa đặt ra. Người Hoa gọi là Nam Quan thì chúng ta gọi là “Ải” Nam Quan. Chữ “ải” được thêm vào. Ðôi khi, trong một số tài liệu, người Hoa gọi Nam Quan là Nam Ải, ải Rô là Rô Ải (Yo Ai), cũng như Bình Nhi Quan là Bình Nhi Ải (vì nơi này sông uốn qua một hẻm núi hiểm trở hình chữ C), nhưng không bao giờ ta thấy họ gọi là Nam Quan là Nam Quan Ải hay Bình Nhi Quan là Bình Nhi Quan Ải. Ta gọi Ải Nam Quan, cũng như gọi “cửa ngọ môn”. Môn là cửa, gọi “cửa ngọ môn” ta lập lại chữ “cửa” hai lần, một lần tiếng Việt, một lần tiếng Hán. Ải Nam Quan cũng vậy, ta cũng lặp lại hai lần một ý nghĩa của: quan và ải. Và ta có thể tìm thấy nhiều trường hợp tương tự. Người Việt ta gọi thế là theo thói quen hay là một “ngoại lệ văn hóa” (exception culturelle) Việt Nam? Riêng người Pháp, trong công việc phân định biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa, như tài liệu trên đã ghi nhận, đã có một nhận thức về sự khác biệt giữa Quan, Ải và Ca. Họ dịch lần lượt là Porte, Passage và Barrière. Porte có nghĩa thông thường là cửa. Passage có rất nhiều nghĩa, trong trường hợp này có thể là nơi mà mọi người qua lại. Barrière cũng có nhiều nghĩa, nhưng ở đây có thể là nơi qua lại có rào hay vật cản. Tuy nhiên, sau này, có thể vì để dễ dàng trong công việc, quan, ải hay ca đều được các nhân viên phân giới dịch bằng chữ “porte”, có nghĩa là “cửa”. Nhưng dầu thế nào chữ “porte” (quan) và “passage” (ải) không bao giờ đi chung với nhau trong một danh tự ghép chỉ định một địa danh như trường hợp Ải Nam Quan mà dân ta thường dùng. (Trường hợp danh từ ghép quan-ải thì có nghĩa tương tự như biên cương, biên tái, biên viễn, biên thùy, biên ngung... chỉ cho những nơi xa xôi “quan tái” lạnh lẽo, những vùng tuyến đầu hay nơi trận mạc). Trong loạt bút ký của bác sĩ Néis mang tựa đề Sur le frontière du Tonkin viết năm 1887, đăng trên Le Tour du Monde, các địa danh Nam Quan, ải Rô, ải Loa v.v... được dịch là Porte de Chine de Nam Quan, Porte de Chine d’Ai Ro, Porte De Chine d’Ai loa v.v... Tất cả những cửa thông thương đều được ông bác sĩ này gọi là “Porte de Chine”, “Cửa Tàu”. Nhưng Nam Quan là cửa thông thương quan trọng hơn cả, hơn nữa, cửa Nam Quan được Tàu xây đồ sộ sau này, có lẽ vì thế mà khi nói đến Porte de Chine thì người ta chỉ liên tưởng đến Nam Quan.

Về phương diện chiết tự, chữ Ải , tác giả chỉ mới biết chữ Hán do tự học, còn rất sơ lược, xin để phần này cho các chuyên gia bổ túc thêm.

Về ý nghĩa địa lý của danh từ Ải: Ải là hẻm núi; là đường hẹp đi giữa hai trái núi hay đồi. Từ Ải 隘 tiếng Hán cũng có nghĩa là nơi hiểm trở, thu hẹp lại. Ngày xưa khi lưu thông chỉ còn là đi bộ, hay đi ngựa, hàng hóa được người gánh gồng hay chở bằng xe ngựa, xe trâu... muốn vượt qua núi thì người ta chỉ có hai cách: hoặc là leo núi để vượt qua; hoặc nếu núi cao, không vượt được, thì tìm cách len lỏi theo các chân núi tìm hẻm núi để đi qua. Các đường hẻm núi người ta gọi là ẢI (passe). Những con đường (ải) này nhiều khi đi vòng vo rất dài. Ngày hôm nay với cơ khí nặng, người ta có thể thu ngắn đoạn đường bằng cách đục núi làm hầm thông qua (tunnel), hay ủi những con đường đi lượn quanh trên sườn núi để vượt qua núi. Ðường này gọi là ÐÈO (col). Giống nhau giữa đèo và ải là cả hai cùng là con đường qua núi. Khác nhau giữa đèo và ải là đường đèo leo lên lưng chừng núi, hay vượt thẳng qua núi, còn đường ải thì len lỏi dưới chân núi để qua núi mà không leo lên núi. Chiều dài của đèo và ải có thể dài ngắn khác nhau.


2. Ải Nam Quan theo Phương Đình địa dư chí

Theo Phương Ðình địa dư chí của cụ Nguyễn Văn Siêu (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2001, tr. 451): “Ải Nam Quan ở địa phận hai xã Ðồng Ðăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên. Phía Bắc giáp địa giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, 2 bên tả hữu núi đá cao ngất, ở giữa mở một cửa quan, cánh cửa có khóa, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là cửa Nam Quan (một tên là Ðại Nam Quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam Quan”.

Cũng theo cụ Nguyễn Văn Siêu (tr. 180), trích từ Ðịa chí loại tạp khảo: “Cửa Trấn Nam (Chấn Nam) ở trên đường từ Ung Châu đến Lạng Sơn, được mở vào thời nhà Tống, thuộc động Bằng Tường, phủ Tư Minh. Theo Ðại Nam nhứt thống chí Trấn Nam Quan ở trong nội địa nước Tàu, dựng dưới thời Gia Tĩnh nhà Minh”  (1522-1566).

Theo Thanh nhứt thống chí, năm 1726, tức năm thứ 2 triều Ung Chính, cửa được “tu bổ” lại: “Cửa quan dài 110 trượng (khoảng 50m), có đề 3 chữ Trấn Nam Quan, nghĩa là cửa quan để phòng giữ phương Nam. Ðằng sau cửa có đài Chiêu Ðức và đình Tham Ðường, là nơi đón tiếp sứ bộ nước ta”.

Vì vậy, có lẽ ải Trấn Nam được thông mở dưới thời Tống. Ðến triều Minh thì cửa ải có xây một “cửa” (ngoại sách hay quan ngoại) và cửa được tu bổ lại vào triều Ung Chính nhà Thanh 1726. Cửa ải có nhiều tên khác nhau: Ðại Nam Quan, Trấn Nam Quan, Trấn Di Quan v.v...

Cũng theo Phương Đình địa dư chí của Nguyễn Văn Siêu (tr. 57): “Tháng 6 năm thứ 5 triều Vĩnh Lạc, đổi Kê Lang Quan làm Trấn Di Quan… Trấn Di Quan thuộc huyện Kê Lăng, Pha Lũy Môn thuộc huyện Uyên… Năm thứ 9 ngày 4 ngày Quí Mão, huyện Kê Lăng phủ Lạng Sơn được đổi thành huyện Trấn Di, Kê Lăng Ðệ Vận Sở thành Trấn Di Ðệ Vận Sở, Pha Lũy Quan Tuần Kiểm tư huyện Thủy Lãng châu Thất Uyên  thuộc về huyện Uyên».

Trong phần An Nam bị lục (tr. 98), phủ Lạng Sơn được mô tả: “ở phía Bắc Giao Châu, cách 530 dặm, năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Lạc, đổi đặt, có 7 châu: Thượng Văn, Hạ Văn, Thất Nguyên, Vạn Nhai, Quảng Nguyên, Thượng Tư, Hạ Tư và 5 huyện là: Khâu Ôn, Trấn Di, Uyên huyện, Ðan Ba, Thoát huyện.” 

Theo hai tài liệu trên thì tên đầu tiên của Trấn Di Quan, tức Trấn Nam Quan (hay Ðại Nam Quan, Hữu Nghị Quan sau này), là Kê Lăng Quan và hai cửa quan Trấn Nam và Pha Lũy hoàn toàn khác nhau. Cửa Trấn Nam, thuộc huyện Trấn Di, là một cửa biên giới còn Pha Lũy thuộc huyện Uyên. Theo tài liệu Chu Tử Bôn (ghi lại phía dưới), Pha Lũy là một trạm để sứ bộ nước ta, trước khi sang Tàu, ngừng ở đây sửa soạn vật triều cống.

Tuy nhiên, An Nam bị lục (tr. 102), phần ghi về phủ Lạng Sơn, có nhắc cửa Lưu Quan: “Ải Lưu Quan ở phía Bắc, thuộc địa giới châu Văn Uyên, lai về phía Nam là Kê Lăng Quan, xa hơn nữa là Cần Trạm. Năm thứ 2 triều Vĩnh Lạc, Hoàng Thông đưa Trần Thiên Bình về An Nam, tiến qua hai cửa quan là Ải Lưu và Kê Lăng, sắp đến Cần Trạm, đường núi hiểm trở, cây cối rậm rạp, quân đi không thành hàng lối, quân phục của An Nam kéo ra giết chết Thiên Bình và quan Ðại Lý Khanh là Tiết Phẩm… Tướng quân Trương Phụ xuất phát từ huyện Bằng Tường, qua Pha Lũy Dịch tiến quân đánh vỡ 2 cửa Ải Lưu và Kê Lăng đến Cần Trạm, lùng soát hai bên đường, phục binh đều trốn hết, bây giờ mới tiến đóng ở chợ Xương Giang, đặt cầu nổi cho quân sang đến khi nước An Nam yên, mới đổi Khê Lăng làm Trấn Di Quan.” 

Theo mô tả thì ở về phía Bắc Kê Lăng Quan còn có Ải Lưu và cửa quan này cũng thuộc Văn Uyên. Khi Trương Phụ đem quân sang nước ta thì trước tiên đi từ Bằng Tường, qua Pha Lũy Dịch, sau đó cửa ải Lưu và cuối cùng qua Kê Lăng để vào đóng tại chợ Xương Giang.

Nhưng cũng từ sách Phương Đình dẫn trên, trang 104-105: “Pha Lũy Dịch ở phía Bắc châu Vạn Uyên 100 dặm, cũng gọi là Pha Lũy Quan. Từ Bằng Tường vào An Nam tất phải qua đường này, nay gọi là Pha Dữ Trạm. Dư Trình ký chép: Từ của quan (Ðại Nam Quan?) thuộc địa giới châu Bằng Tường, đi về phía Nam 30 dặm đến trạm Pha Lôi (Pha Lũy?), lại qua trạm Ðông Bộc, trạm Bất Bộc, trạm Bất Bác, lại 100 dặm đến trạm Bộc Thượng, lại qua trạm Phi Lê, trạm Xương Giang, trạm Chi Kiều, trạm Lã Khôi tất cả 210 dặm qua sông Phú Lương đến thành An Nam.” 

Như vậy có một mâu thuẫn lớn về vị trí và tên gọi của Kê Lăng (tức Trấn Di Quan, Trấn Nam Quan hay Ðại Nam Quan), Pha Lũy Dịch (Pha Lôi hay Pha Dữ) và Ải Lưu từ các tài liệu dẫn trên. Ta thấy lúc thì có dữ kiện cho rằng Kê Lăng Quan ở phía Nam Pha Lũy Dịch, lúc thì cho rằng Kê Lăng Quan ở phía Bắc Pha Lũy Dịch.

Việc này có thể giải thích bằng nhiều giả thuyết. Thứ nhứt là do tác giả không có cách nào để tiếp cận tham khảo các bộ địa chí của Việt Nam, ngoài bộ Phương Ðình địa dư chí hiện có. Tác giả không thể kiểm chứng được. Nếu có người chỉ giúp để làm sáng tỏ việc này thì rất mang ơn.

Nếu chỉ trên bộ địa chí này, có thể là do nhà chép sử ngày xưa, tam sao thất bổn. Cũng có thể do ban biên tập quyển Phương Ðình địa dư chí. Ta thấy quyển sách này do nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin Hà Nội phát hành và biên tập là Ðặng Thị Huệ. Lối hành văn vắn tắt của quyển sách làm cho việc sưu khảo khó khăn, lại không ghi chú thêm từ Hán. Nhưng cũng có thể Kê Lăng Quan (được đổi thành Trấn Di Quan vào tháng 6 năm thứ 5 triều Vĩnh Lạc, tức năm 1408) thuộc huyện Kê Lăng, không phải là Trấn Nam Quan, thuộc xã Ðồng Ðăng huyện Văn Uyên, ở vị trí hiện thời. Huyện Kê Lăng được đổi thành huyện Trấn Di và huyện này hoàn toàn khác biệt với huyện Uyên (thời Minh thuộc gọi là Uyên huyện, nhà Lê đổi thành Văn Uyên). Có lẽ huyện Trấn Di sau này được đổi tên hay sáp nhập vào một huyện khác. Nếu đoán theo tương đối của vị trí và cách phát âm thì Kê Lăng Quan (Trấn Di Quan) chính là ải Chi Lăng. Huyện Trấn Di có thể đã đổi thành huyện Chi Lăng. Nếu thế Trấn Nam Quan (tức Ðại Nam Quan) không thể có tên Trấn Di Quan như cụ Nguyễn Văn Siêu (và một số sử gia Việt Nam) đã viết.


3. Tên Việt của Nam Quan

Nam Quan, địa danh mang tên Hoa, nhưng cũng có một tên Việt. Bài thơ “Hai chữ nước nhà” của Á Nam Trần Tuấn Khải mở đầu bằng các câu sau:
 

Hai chữ nước nhà
(Nghĩ tới Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)

Chốn Ải Bắc mây sầu ảm đạm
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu
Bốn bề hổ thét chim kêu
Ðoái nom phong cảnh như khêu bất bình
...
  
Bài thơ đại ý nói lên tâm sự đau xót của Nguyễn Phi Khanh, lúc bị bắt đưa sang Tàu. Khi đoàn tù đi đến ải Bắc - tức sắp sang đất Tàu - thì ông Nguyễn Phi Khanh nhìn lại thấy con là Nguyễn Trãi vẫn theo bước chân đoàn tù để cùng sang Tàu với cha cho vẹn đường hiếu đạo. Nguyễn Phi Khanh mới lên tiếng khuyên con quay trở về để mưu cầu phục hận. Nguyễn Trãi gạt nước mắt vâng lời sau này theo Bình Ðịnh Vương Lê Lợi dựng lên nghiệp lớn. 

Vì thế, Nam Quan là từ Hán do người Hoa đặt cho một địa danh ở vùng biên giới Việt Nam và Trung Quốc. Dân ta ngày xưa đã gọi địa danh đó là Ải Bắc. Người Hoa cho địa danh đó là một cửa Quan (Trấn Nam Quan, Đại Nam Quan…), người Việt cho là cửa Ải (ải Nam Quan, ải Đại Nam…). “Quan” hay “Ải”, theo nhận định phần 1, có cùng một ý nghĩa là cửa thông thương của hai nước, nhưng chỉ khác nhau về tầm quan trọng. Người Hoa gọi đó là cửa qua phương Nam và ta gọi đó là cửa qua phương Bắc.

Nhưng ta ít khi nghe người Việt mình sử dụng từ "ải Bắc". Có lẽ vì cách gọi Ải Bắc là nôm nacha mách qué nên chúng ta không dùng, lâu ngày nên quên đi chăng?


4. Vị trí Ải Nam Quan

 
Một góc bản đồ vùng Nam Quan của Sở Địa dư Đông Dương 1935 (hoặc 1948?)


Tác giả chưa tìm thấy tài liệu nào ghi lại một cách chính xác các đường thông thương giữa Trung Quốc và Việt Nam trước thế kỷ thứ XV. Ta chỉ biết một cách sơ sài rằng vào thời nhà Tiền Hán (năm 41 dương lịch), lần đầu tiên quân Tàu xâm chiếm nước ta, do Phục Ba Tướng Quân Mã Viện cầm binh. Ông này dẫn thủy quân vào Việt Nam qua ngả Quảng Ðông. Theo Ðại Thanh nhứt thống chí, quyển 348, tờ 8 và tờ 15, thì vào năm 74 dương lịch, quân Tàu vượt qua núi Phân Mao để tiến vào châu Tiên Yên (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh). Cũng theo Ðại Thanh nhứt thống chí thì núi này ở về phía Tây phủ Khâm Châu, tỉnh Quảng Ðông. Theo một tài liệu khác thì núi này cách phủ Khâm Châu 360 lý về hướng Tây. Ðến triều nhà Tống (1052), quân Tàu mới vào nước ta theo đường bộ qua ngả Quảng Tây. Không thấy chú thích đoàn quân này đã vượt qua các ải nào. Và chỉ dưới thời nhà Minh (1406) đường vào nước ta từ Trung Quốc qua ngả Vân Nam mới được mở.


Ghi chú
 
  • Lý: đơn vị đo chiều dài, có nhiều trị số khác nhau. Ðơn vị lý được Pháp dùng với Tàu để phân định biên giới Việt - Trung có chiều dài 560 mét. Lý “bình thường”, dùng trong các sử sách như Ðại Thanh nhứt thống chí có chiều dài là 400 mét. Nhưng trong các bản đồ do các nhà truyền giáo Jésuites thiết lập thì họ sử dụng đường kinh tuyến Bắc Kinh (114° 49’ 30’’), đơn vị lý được tính theo hải lý (mille marin, dặm biển), mỗi hải lý dài 10 lý. Tức 1 lý vào khoảng 185 mét.

     
  • Khoảng cách đo được từ hai địa phương trên một lộ trình là là đoạn đường mà người bộ hành đã đi qua, tính theo thời gian nhân với vận tốc trung bình. Vì thế các đoạn đường đèo hay ải đi quanh co trong núi thì thường dài hơn rất nhiều so với khoảng cách tính theo đường chim bay.


4.1. Tài liệu 1

Bản đồ Itinéraires De Chine en Annam (“Các lộ trình từ Trung Quốc đến An Nam”, đính kèm) được thiết lập dưới triều Nguyên (Mông Cổ), và được Tschou-Sse-Peun (Châu Tử Bôn) chú giải thêm và công bố vào năm 1579. Có lẽ các chi tiết trên bản đồ này được ghi lại trong Phương Đình, phần Dư (hay Du?) Trình Ký đã dẫn ở trên.

Theo bản đồ thì thông thương giữa Quảng Tây và thủ đô An Nam là Hà Nội có ba lộ trình. Hà Nội lúc đó tên gọi là Ðông Kinh; Bắc Ninh tên gọi là Kinh Bắc; Thanh Hóa tên gọi là Tây Kinh...


Lộ trình thứ nhứt: Từ châu Bằng Tường (Ping-shiang-tcheou), qua cửa ải phía Nam (tức Nam Quan), đến Pha Lũy Dịch thuộc châu Văn Uyên, hoặc đi về phía Bắc châu Thoát Lảng, hai ngã cùng đến phủ Lạng Sơn trong một ngày đường. Từ đây đi về hướng Bắc Châu Ôn, một ngày đường thì đến Quỉ Môn Quan; nếu về hướng Nam Châu Ôn, qua thôn Tân Lê, vượt Nhị Thập Giang, đi một ngày đến huyện Bảo Lộc. Ði tiếp nửa ngày thì đến Xương giang (Thọ Xương?), vượt sông; một ngày thì đến cầu sông Thị Kiều phía Nam huyện An Việt (Kinh Bắc). Huyện này ở trên nhánh bắc ngạn của sông (Thị Kiều).

(Có lẽ sông Thị Kiều là sông Cầu, cách Bắc Ninh khoảng 5 hay 6 Km về hướng Bắc. Sông rộng không hơn 200 m, nước chảy không mạnh, có thể vượt sông dễ dàng bằng phà.)

Lộ trình thứ hai: Ði từ Tử Minh Châu, vượt qua núi Ma Thiên Lãnh, đến Tử Lăng Châu; từ đây, trong một ngày đường, qua Biên Cương Ải đến châu Lộc Bình; phía Tây huyện này có đường dẫn đến phủ Lạng Sơn trong một ngày.

Nếu đi về hướng Ðông thì phải vượt qua sông Thiên Lý (tức sông Kỳ Cùng). Con sông này dưới thời vua Yong Lô (tức Chu Lệ, hiệu Vĩnh Lạc 1403-1425) đã bị lấp dưới lệnh của vua Lê Lợi nhằm mục đích cản đường đi của quân Tàu. Nhưng quân Tàu đã được báo trước nên tháo gỡ vật chướng ngại và vượt qua.

Từ sông Thiên Lý đi một ngày rưỡi thì đến châu An Bác; từ đây đi một ngày rưỡi thì tới núi Hao Quân Ðộng. Con đường qua lối này rất hiểm trở. Sau một ngày đường thì tới huyện Phong Nhân; từ đây có hai ngả: Ngả thứ nhứt đi một ngày qua sông Xương và đến huyện Bảo Lộc. Ngả thứ hai xuyên qua phủ Lạng Sơn và trong một ngày đường thì đến cầu Thị Kiều ở phía Nam huyện An Việt. Tại đây hai ngả đường gặp lại nhau.

Lộ trình thứ ba: Vào Long Châu đi một ngày đường tới Bình Nhi Ải và một ngày nữa thì tới châu Thất Uyên (Cao Bằng). Từ đây đi hai ngày đến xã Bình Gia thuộc Văn Lang. Từ nơi này có hai đường đi khác nhau để đến huyện An Việt.

Ðường thứ nhứt đi một ngày từ Văn Lang, xuyên qua rặng núi phía bắc huyện Hữu Lũng, qua Quỉ Môn Quan; thêm 40 lý đường bằng phẳng, sau đó băng qua sông Xương, phía Nam Hữu Lũng, kế tiếp đi xuống nam ngạn của sông, trong một ngày tới huyện An Ðồng. Từ huyện Thế An đường xá bằng phẳng. Từ huyện An Ðồng mất một ngày đường thì đến cầu trung tâm chợ huyện An Việt, trên phía bắc ngạn của sông.

Ðường thứ hai từ Văn Lang đi một ngày rưỡi đường phía Tây ải Bình Nhi, xuyên qua châu Vô Ngạn; đây là một đường núi. Ði tiếp hai ngày đến huyện Tú Nộng, đường bằng phẳng. Từ đây đi một ngày rưỡi đường thì đến cầu Thị Kiều, phía bắc huyện An Việt, bên bờ bắc ngạn thượng nguồn sông Thị Kiều. Con sông này chảy phía Nam của sông Xương Giang và xuyên qua trung tâm huyện An Việt; huyện này ở phía Nam của sông Thị Kiều. Tất cả các đường đều tụ tập nơi đây, và những con đường này đều có thể vận chuyển quân binh.

Từ huyện An Việt đi một ngày đường thì tới phủ Từ Sơn, kế tiếp là đến huyện Ðông Ngàn, huyện Gia Lãm và các huyện khác. Sau đó qua sông Phú Lường để vào đến Giao Châu.

Ghi nhận
 
  • So sánh bản đồ này và các chi tiết ba lộ trình của nó với các bản đồ và lộ trình hiện nay, ta nhận thấy đã có nhiều sai biệt, nhất là ý niệm về khoảng cách, tỉ lệ. Nhưng việc liên hệ đến bài viết này là các địa danh mà theo đó chúng có khả năng giúp ta soi sáng một vài điểm mờ của địa lý và lịch sử: châu Bằng Tường, Nam Quan, Pha Lũy Dịch, Văn Uyên Châu, Thiên Lý Giang...

     
  • Bản đồ cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa Nam Quan và Pha Lũy Dịch. Theo bản đồ thì đi từ châu Bằng Tường trước hết phải qua Nam Quan, đến châu Văn Uyên (Ðồng Ðăng) rồi mới đến Pha Lũy Dịch. Pha Lũy Dịch ở trên bờ bắc ngạn sông Thiên Lý, tức sông Kỳ Cùng. Nhìn lên bản đồ hiện nay thì thị trấn ở bên bờ bắc ngạn sông Kỳ Cùng là Kỳ Lừa. Phủ Lạng Sơn ở phía nam ngạn sông Kỳ Cùng. Phải chăng Pha Lũy Dịch chính là Kỳ Lừa?

4.2. Tài liệu 2


Lộ trình từ Hà Nội qua ngả Lạng Sơn, Quảng Tây, sông Tây Giang để đến Canton (năm 1837) tác-giả Tsai-Tin-Lang (?), chuyển ngữ sang tiếng Pháp trong Itinéraire de Hanoi à Canton par Lang-Son, le Kouang-Si et la rivière Si-kiang, tác giả tạm dịch như sau:

Tác giả Tsai-Tin-lang, bị đắm tàu tại vùng biển An Nam; đi đến Huế và không muốn gặp lại nguy hiểm nữa cho nên quyết định trở về cố hương bằng đường bộ. Ông bắt đầu đi từ Huế đến Quảng Tây và sau đó từ đây đi Canton (Quảng Đông) bằng thuyền trên sông Tả Giang. Toàn bộ bút ký liên hệ đến cuộc du hành này được đăng trọn trong bộ sách của Ecole De Langues Orientales Vivantes - Trường Sinh ngữ Ðông phương, quyển có tên Recueil d’itinéraires et de voyages dans l’Asie centrale et dans l’Extrême Orient (E. Leroux, 1887) Sưu tập về các hành trình và du hành ở Trung Á và Viễn Ðông.

Từ Hà Nội đến Bắc Ninh

Tsai-tin-lang rời Hà Nội ngày 15 tháng 3 năm 1837. Ông tính khoảng cách từ Hà Nội đến Bắc Ninh là 130 lý.

Từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn

Ngày 17 tháng 3, ông Tsai qua đêm tại phủ Lưỡng Giang.

Ngày 18 ông đến trạm Tsin-in-chung (?), gần chỗ đó, trên vùng giáp ranh của huyện Vyng-tsyiang (Vân Uyên?), là hồ Hou-lou-hai (?), nơi đây người ta lấy rất nhiều chất thần sa (son đỏ).

Ngày 19, ông nghỉ đêm tại trạm Huan-lang (Văn Lang?) sau khi đi qua 7 trạm khác có quan quân canh gác.

Ngày 20, sau khi đi được 13 lý, ông Tsai đến Quỉ Môn Quan. Truyền thuyết địa phương cho rằng mười người đi vào cửa Quỉ Môn thì chỉ có một người sống sót đi ra. Dân chúng vẫn tin rằng ngày hôm nay tại đó vẫn còn một khu chợ ma. Các hồn ma đêm hôm tụ tập để mua bán, người nào đến quấy rầy sẽ bị trù mà sinh bịnh. Ông Tsai ngừng chân tạm nghỉ dưới tường của Quỉ Môn Quan. Nhưng thình lình cả người ông run lên bần bật, tóc trên đầu dựng đứng. Ông Tsai phải vội vã đứng dậy.

Kế bên Quỉ Môn Quan là đền thờ Phục Ba, biệt danh của tướng Mã Viện. Viên tướng này đã cầm quân xâm chiếm Giao Chỉ vào năm 41. Các quan lại triều đình đi qua đều vào thắp nhang khấn vái. Phía ngoài đền thờ có loại lương thảo Y-dze (bo bo) mọc. Loại lương thảo được quân lính của Mã Viện đem làm lương thực. Nó có hiệu lực trừ được chướng khí và độc thủy. (Người ta tìm thấy trong sử sách của Kouang Vou (?) rằng Mã Viện đau bệnh vì do phong thổ độc địa không thích hợp. Ðể chửa trị, Mã Viện đã ăn một lượng lớn bo bo. Khi Mã Viện trở về Tàu thì có cho xe kéo chở về theo. Nhưng tướng Mã Viện bị trách tội vì không đem nó dâng lên cho nhà Vua. Ông phải chết vì việc này và vợ ông không dám làm lễ an táng cho ông.)

Khoảng 2 lý, phía Ðông Nam, người ta sẽ gặp một ngọn núi đá. Trên đỉnh núi ấy có một trụ đồng tương tự như trụ đồng được cắm trên đỉnh núi Phân Mao, thuộc địa phận Khâm Châu (Kin-tcheou), Canton (Quảng Ðông). Trụ đồng cao khoảng 10 trượng và dầy khoảng 10 phân. Từ xa mầu sắc của đồng trụ giống như màu đá, vì bao phủ bởi phân chim. Dân địa phương kể rằng người ta thường thấy những con chim thần đậu trên trụ đồng...

Cùng đêm đó (20 tháng 3), Tsai-tin-lang ngừng bước tại pháo đài thứ 5 (5e batterie). Ngày xưa, vào thế kỷ thứ 18, người An Nam (triều nhà Lê?) đã dựng lên 18 pháo đài, tương tự như dàn pháo thứ 5 này để chống lại quân Tây Sơn. Người ta có thể đứng từ dàn pháo này trông thấy dàn pháo kế; nhưng chúng đã không còn nữa, ngoài pháo đài thứ 3 và thứ 5.

Toàn vùng này đồi cao hoang vu bao phủ, đôi lúc một con đường mòn vắng lặng cắt ngang qua. Khắp nơi xen lẫn bụi rậm gai góc là cỏ dại mọc cao đến 10 trượng. Ðường đi lúc thì núi đá hiểm trở, lúc thì vực thẳm tối tăm. Không thấy một dấu vết con người; ngoài những đám cướp hung dữ lấy vùng này làm sào huyệt. Giữa các tảng đá lớn hay phía dưới những vực sâu là nơi chướng khí tụ tập. Hơi nước độc địa tại các nơi đây không tan hết trong ngày. Mặc dầu là mùa xuân, cây cối trong rừng đều vàng vọt và khô héo. Các tảng đá rêu mốc phủ đầy. Tuy nhiên, hai bên bờ của con sông chảy qua vùng này thì cây cối um tùm, rậm rạp. Trên sông có những con công đang bơi lội. Trên đường mòn, mà những con công theo đó đến đây, cây cối che phủ dầy dặc, kín mít, không một tia nắng xuyên lọt qua. Rắn rết, bò cạp khắp nơi, chúng nhả chất độc ô nhiễm cả dòng sông. Những người du hành đi qua vùng này đều mang theo hạt kê rang và lương thực. Họ uống nước sông nhưng với nhiều thận trọng. Nước này được nấu sôi với thân cây bo bo, dùng như là một loại thuốc ngừa bệnh, uống như nước trà. Ðối với người không quen phong thổ, phương cách này lại càng cần thiết hơn.

Gần đến Lạng Sơn, đường chân trời bao bọc vô số chóp núi lô nhô và nhọn bén. Nhìn từ xa thấy chấp chởm hàng ngàn điểm đen. Tại đây rặng núi Pang-che-ling (?) bao phủ trên một vùng khoảng 20 lý. Con đường mòn xuyên qua đi rất khó nhọc; lúc thì phải leo qua những đỉnh cao, lúc thì phải đi đánh vòng rất khổ sở. Ngày 21, Tsai-tin-lang đến Lạng Sơn vào lúc xế trưa. Viên quan trấn thủ Lạng Sơn, theo như thông lệ, gởi một sứ giả sang Quảng Tây để hỏi quan phủ Thái Bình lúc nào thì cho phép ông Tsai đi qua cửa ải. Sứ giả trở về Lạng Sơn ngày 31 tháng 3 mang tin rằng ông Tsai được phép qua cửa ải vào ngày 8 tháng 4. Trong lúc chờ đợi, ông Tsai thăm viếng vùng chung quanh Lạng Sơn và lên đường vào ngày 3 tháng 4.

Từ Lạng Sơn đến biên giới

Ngày 3 tháng 4 sau khi qua sông, ông Tsai đi qua chợ Tsoi-moi-pou (Kỳ Lừa), thương buôn tại đây toàn là người Tàu từ Quảng Tây và Quảng Ðông. Sau khi đi được 35 lý ông đến Văn Uyên (Ðồng Ðăng). Ông lên đường lúc 8 giờ sáng. Ðường đi là đường mòn nhỏ, đi vòng vo quanh núi. Im lặng và cô lập. Khắp nơi không thấy bóng dáng một người nào. Không nghe tiếng gà gáy cũng như tiếng chó sủa. Ði được 45 lý, ông Tsai đến Yo-ai hay Nan-Kouan (Nam Quan). Người An-Nam gọi ải này là Io-tsong-ai. Cùng ngày, quan viên Tàu ở Tả Giang và vùng Ning-ming-tcheou (Ninh Minh Châu) gởi người đến cửa ải để đón Tsai-tin-lang...

Từ Trấn Nam Quan đến phủ Nam Ninh, bến sông Tây Giang (Si-kiang hay Nei-si-ho)

Ngày 8 tháng 4 Tsai-tin-lang vượt cửa biên giới phía Nam (tức Trấn Nam Quan). Sau khi qua khỏi nơi đây, người ta cũng ít thấy nhà cửa. Ðường xá cũng khó đi như phía bên kia ải. Cũng toàn là núi non hiểm trở. Ði được 25 lý, ông Tsai ngừng chân ở một trạm nghỉ ngơi thuộc huyện Hia Che (Hạ Thạch?). Ông lên đường cùng ngày và đến Chang Che-tcheou (Sơn Thạch Châu?). Ðoàn người theo hộ vệ ông là dân địa phương thuộc Quảng Tây, không được dân Tàu xem là người Hán.

Ngày hôm sau, 9 tháng 4, ông này đến Ning-ming-tcheou (Ninh Minh Châu) sau khi đi được 70 lý.

Ghi nhận 

Ðiểm đáng chú ý của đoạn văn trên đây là:
 
  • Cuộc du hành này đã được tác giả "thần thoại hóa” hơi quá lố. Quan trọng là sự hiện hữu của trụ đồng, có thật hay không? Làm sao nó còn nguyên vẹn hàng ngàn năm mà không tiêu hủy do rỉ sét?

     
  • Theo ông Tsai-tin-Lang thì ải này có tên Việt, đọc theo lối Tàu là Yo-Ai (Ải Rô? Ải Du?) hay Io-Tsong-Ai (?).

     
  • Theo cách tính của ông Tsai, khi biết được vận tốc trung bình người đi bộ và thời gian đi đường, khoảng cách Kỳ Lừa và châu Văn Uyên (Ðồng Ðăng) là 35 lý (14 Km). Từ Lạng Sơn đến cửa ải là 45 lý (18 Km). Như thế từ Đồng Đăng lên cửa ải là 4km. Sau khi qua cửa được 25 lý (10 Km) là một trạm nghỉ không biết tên, thuộc huyện Hia-Che (Hạ Thạch), có lẽ đây là châu Bằng Tường, và trong ngày thì ông đến Chang-Che-Tcheou (Sơn Thạch Châu).

     
  • Cửa ải thuộc đất Tàu, có quân Tàu canh gác. Muốn qua cửa phải xin phép trước.
Theo bản đồ phủ Thái Bình (đính kèm) của các nhà truyền giáo Jésuites thiết lập năm 1718, dưới chiếu chỉ vua Khang Hi nhà Thanh năm 1708, thì Hie-Che là một châu chớ không phải huyện. Hia-Che-Tcheou (Hạ Thạch Châu).

Theo Ðại Thanh nhứt thống chí thì Chang-Che Tcheou (Sơn Thạch Châu) cách biên giới An Nam, châu Vân Uyên là 30 lý (12 Km) về hướng Tây và 25 lý (10 Km) hướng Tây Bắc. Không có ghi chú về Hia-Che-Tcheou.
 


4.3. Tài liệu 3: Ðại Thanh nhứt thống chí

Theo Ðại Thanh nhứt thống chí quyển 365, tờ 17, ghi chú về châu Bằng Tường, trong mục các ải và các cửa biên giới thuộc châu này thì Trấn Nam Quan ở về phía Tây Nam châu Bằng Tường (Ping-siang tcheou), cách 45 lý. Người ta còn gọi nó là Ðại Nam Quan. Ðây là cửa chính của biên giới. Bên phải và bên trái cửa cổng là núi đá cao xuyên qua mây. Ở giữa các núi này người ta dựng lên cổng Nam Quan. Hai bên cổng là một bức tường xây chạy dọc lên núi, dài 1190 bộ (khoảng 377 mét). Cách cửa 30 lý về phía nam là trạm Pha Lũy Dịch. Tại trạm này người An Nam chuẩn bị đồ đạc triều cống để đưa sang Tàu.



Cũng theo Ðại Thanh nhứt thống chí, khoảng cách biên giới An Nam với các châu thuộc phủ Thái Bình được ghi nhận như sau:

Sse tcheou (Tử Châu): Biên giới An Nam cách 180 lý theo hướng Tây Nam và 100 lý theo hướng Ðông Nam. (quyển 365, tờ 4)

Sse-ling tcheou (Tử Lăng Châu): Biên giới An Nam cách 35 lý theo hướng Tây Nam và 50 lý theo hướng Ðông Nam. (idem)

Chang-Che Tcheou (Sơn Thạch Châu): Từ châu Sơn Thạch đến biên giới châu Vân Uyên là 30 lý về hướng Tây hay 25 lý theo hướng Tây Bắc. (tờ thứ 5)

Ning-ming tcheou (Ninh Minh Châu): cách biên giới An Nam về phía Nam là 70 lý. Cách châu Vân Uyên, theo hướng Tây Nam, 150 lý. (tờ thứ 2)

Ping-siang tcheou (Bằng Tường Châu): Từ châu Bằng Tường đến biên giới An Nam về hướng Tây là 20 lý, về hướng Nam là 30 lý. Từ đây cách châu Vân-Uyên 12 lý theo hướng Ðông Nam, cách 8 lý theo hướng Tây Nam. (tờ thứ 6)

Long tcheou hay Hia-long-sse (Long Châu hay Hạ Long Tử). Biên giới An Nam cách 80 lý về hướng Tây hay 100 lý theo hướng Tây Bắc. (tờ 6)

Chang hia Tong tcheou (Sơn Hạ Ðông Châu): Biên giới An-Nam cách 22 lý về hướng Tây và 30 lý về hướng Tây Bắc. (tờ 6)

Ngan ping tcheou (An Bình Châu): Biên giới An Nam cách 60 lý về Tây. (tờ 2)



Ghi nhận

Ðiểm đáng chú ý đoạn này là:
 
  • Hai bên cổng Nam Quan là núi đá, đỉnh cao xuyên qua mây.

     
  • Cửa ải cách châu Bằng Tường bên Tàu 45 lý (18 Km) và cách Pha Lũy Dịch của An Nam là 30 lý (12 Km).

     
  • Cửa Ải Nam Quan là cửa chính của biên giới. Có quân canh. Trong khoảng những năm 1884 cho tới 1895, quân số tại đây đóng trên 5 ngàn người.

     
  • Bản đồ 1 trích từ Đại Thanh nhứt thống chí, bản đồ 2 từ Đại Thanh hội điển đồ. Trong hai bản đồ trên ta thấy Tchen nan Kouan (Trấn Nam Quan) đều ở trên đất Tàu.


4.4. Tài-liệu 4

De Hanoi à la Frontière du Quang-si (Từ Hà Nội đến Quảng Tây) của M. Aumoitte, năm 1881. Tác giả tạm dịch như sau:

Ðồng Ðăng cách cửa ải 2 cây số rưỡi. Nơi này bề ngoài cũng giống như Kỳ Lừa. Dân chúng phần lớn Tàu lai với thổ dân và sinh trưởng tại đây. Có nhiều tiệm bán lẻ (chạp-phô); chỉ có 12 cửa hiệu buôn theo lối trao đổi (bông, dầu hồi, thuốc phiện, thuốc bắc)...

Từ Ðồng Ðăng đến biên giới con đường chỉ còn là một con đường mòn nhỏ, đá lởm chởm, chạy quanh những ngọn đồi hầu như là trọc và không có người ở. Ði khỏi Ðồng Ðăng được 10 phút là không còn một bóng người. Con đường mòn này mỗi lúc một hẹp và dẫn tới trước một cửa cổng có hai cánh bằng gỗ. Cửa được gắn với một bức tường làm bằng gạch nung, xây dài lên tới đỉnh đồi, có độ cao chừng 50 mét. Hình thức của cổng và hai bức tường xây lên núi tạo thành như một cái phễu (nguyên tác viết là cuống họng, gorge). Ðó là biên giới. Trên đỉnh đồi, bức tường chấm dứt và người ta có thể đi qua Quảng Tây không có trở ngại. Trên hai cánh của gỗ có vẽ rồng, phụng mầu sắc rực rỡ.



Ghi nhận
 
  • Cửa ải cách Ðồng Ðăng 2 cây số rưỡi.

     
  • Ðường lên cửa ải là đường mòn, mỗi ngày một hẹp, chung quanh không có người ở.

     
  • Cửa ải làm bằng gỗ, có hai cánh, có vẽ rồng màu sắc rực rỡ. Hai bức tường làm bằng gạch nung xây (mur crénelé en briques) chạy dài lên đồi cao. Theo tác giả Aumoitte thì bức tường là đường biên giới.

Ông Aumoitte có nhờ người vẽ lại một bức hoạ cổng Nam Quan (đính kèm)


4.5. Tài liệu 5

Biên bản phân định biên giới số 4 ký kết ngày 7 tháng 4 năm 1886 giữa hai phái đoàn Pháp-Thanh, phân định từ Nam Quan đến Bình Nhi, tác giả tạm dịch như sau:

“Ủy ban Phân giới Pháp – Trung nhìn nhận, nhằm ngày Bẩy tháng Tư năm một ngàn tám trăm tám mươi sáu, từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng (ghi chú của tác giả: sau này [1894] mang số 18), đường biên giới theo hướng Tây đi lên đến đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn binh được đánh dấu là điểm A trên sơ đồ kèm theo đây, sau đó đường biên giới đi từ điểm này theo đường nối đỉnh cao của dảy núi đá nhìn xuống con đường Ðồng Ðăng cho đến điểm B đánh dấu trên sơ đồ (ghi chú của tác giả: sau này là cột số 17).


4.6. Tài liệu 6

Theo Dr. Néis, một ủy viên thuộc Ủy ban Phân giới Pháp – Trung (1886-1887), kể lại qua Sur les frontière du Tonkin (Trên vùng biên giới Bắc Việt) đăng trong Le Tour du Monde (1887)

Theo Dr Néis, “La Porte De Chine”, “Cổng Tàu”, được dựng trong một khe núi cạn. Các ngọn đồi có dốc đứng, chiều cao nhiều lắm 50 hoặc 60 mét, bọc quanh. Từ khi hòa bình thì cổng được xây lại bằng đá đẻo (pièrre de taille) và cổng này được nối bằng một bức tường xây với các trại quân sự đóng chốt bao vòng các ngọn đồi. Cũng trong tài liệu này, biên giới được thỏa thuận là con suối nhỏ ở dưới đồi, cách cổng khoảng 150 mét. Đây là điều ghi nhận sai. Theo biên bản (mà Dr Néis có chứng kiến) ghi lại phần 4.6 thì đường biên giới cách cổng chỉ có 100m.

 

Đường lên cửa ải, trích từ Sur les frontière du Tonkin (Trên vùng biên giới Bắc Việt) – đăng trong Le Tour du Monde (1887) của Dr Néis, lúc phái đoàn phân định Pháp đi lên của ải để họp buổi họp đầu tiên.





4.7. Tài liệu 7

“Rapport Général sur la Campagne 1890-1891 de la Commission d’Abornement des Frontière Sino-Annamites” - Bản tường trình tổng quát về công tác 1890-1891 của Ủy ban Phân giới Trung - Việt (Chủ tịch là ông Frandin) và bản đồ “Itinéraire de Bình Nhi à Long Châu par le Sông Kì Cùng et de Long Châu à Nam Quan par la route Mandarine” (Lộ trình Bình Nhi đến Long Châu theo sông Kì Cùng và lộ trình Long Châu đến Nam Quan theo đường quan lộ) của Ðại uý Chapès, Trưởng phòng Ðịa hình, năm 1894. Hình đính kèm. Tác giả tạm dịch và tóm lước như sau:



Công tác của Ủy ban Phân giới 1890-1891 nhằm vẽ họa đồ trên thực địa (đồ tuyến) và cắm mốc biên giới vùng Quảng Tây.
 

  • Ðường từ cửa ải đến Long Châu có nhiều chốt điểm quân sự được xây dựng. Những công sự này nghiêng về phòng thủ.

     
  • “La route Mandarine”, con đường mà sứ thần nước ta đem đồ triều cống sang Tàu chỉ là một con đường mòn rất khó đi và có rất ít người qua lại.

     
  • Trên bản đồ vùng Nam Quan, vừa rời khỏi Ðồng Ðăng, phía tay trái là núi đá cao vúi (màu nâu đậm trên bản đồ). Và như ta biết, núi đá vùng này, từ Thất Khê, Ðồng Ðăng cho tới qua khỏi Ải Nam Quan đều là đá vôi, đỉnh nhọn lởm chởm, tương tự như các đảo vùng Hạ Long.

4.8. Tài liệu 8

Theo kết quả hai thời kỳ phân giới 1890-1892 và 1893-1894. Kết quả cuối cùng thực hiện trong chiến dịch 1893-1894 do ông Gallieni làm chủ tịch, công nhận công trình phân giới của ông Frandin 1890-1892 ; cột mốc phân giới Việt - Trung tại vùng Nam Quan có tên Trấn Nam Quan Ngoại 鎭南關外, mang số 18, được cắm trên đường từ cửa ải về Ðồng Ðăng, cách cổng 100 thước. Điều này cho thấy tại nơi này việc cắm mốc tôn trọng các biên bản phân định.


5. Kết luận

Từ các dữ kiện trên ta có thể kết luận rằng:
 

  • Có thể Ải Nam Quan có thêm một tên Việt, ngoài tên Ải Bắc. Theo ông Tsai-tin-lang thì tên đó là Yo-Ai hay Io-Tsong-Ai. Tài liệu này không chua thêm tiếng Hán nên không tra được chính xác là tên gì. Có thể Yo Ai là cách đọc tiếng Tàu của Ải Rô, là nơi cắm cột mốc số 23, ở về hướng Bắc Ðông Bắc của Ải Nam Quan, cách đây 5 cột mốc (cột mốc Nam Quan mang số 18). Nếu vậy thì ông Tsai có thể đã sai lầm trong cái tên Yo Ai. Nhưng Io Tsong Ai thì sao? Io cũng phát âm tương tự như Yo. Tsong có thể đọc là “Tống”. Quí vị sử gia nghĩ gì?

     
  • Ải Nam Quan khó có thể mang tên là Ải Pha Lũy. Theo Ðại Thanh nhứt thống chí thì Pha Lũy Dịch cách Ải Nam Quan là 30 lý, tức 12 Km (1 lý = 400 m). Theo lộ trình trên bản đồ đã thiết lập do nhà Nguyên, nhuận sắc năm 1579, thì từ Nam Quan trước khi đến Pha Lũy Dịch thì phải qua châu Văn Uyên (Ðồng Ðăng). So sánh khoảng cách tương đối Pha Lũy và Kỳ Lừa theo các tài liệu trên, rất có thể Pha Lũy là tên cũ của Kỳ Lừa. Trong một số bài viết gởi lên Net đầu năm 2002 và trong một bài viết góp ý cùng GS Trần Huy Bích, tức nhà biên khảo Từ Mai, về các vấn đề biên giới và bài này có đăng trên các báo vào tháng 8 năm 2002, người viết đã đưa ra một giả thuyết về cái tên của Ải Nam Quan. Sau khi tham khảo quyển Việt sử toàn thư (Từ thượng cổ đến hiện đại) của tác giả Phạm Văn Sơn (Nxb Dainamco, P.O. 4279 Glendale, CA 91201 – USA), người viết đã cho rằng Ải Nam Quan có thể mang tên là Ải Pha Lũy. Có nhiều yếu tố cho thấy việc này sai. Ðọc lại tài liệu của Tsai-tin-lang ta thấy rằng, đoạn đường khó khăn nhất là đoạn đường trước khi đến Lạng Sơn, sau đó là đoạn Quỉ Môn Quan, cuối cùng là đoạn Ải Nam Quan. Có thể Ải Pha Lũy mà sử gia Phạm Văn Sơn đề cập là ở chung quanh, gần vùng Lạng Sơn và không phải là Ải Nam Quan.

     
  • Theo bản đồ lộ trình Nam Quan – Bằng Tường – Long Châu và các tài liệu trên đây, ta có thể ước lượng được độ dài của Ải Nam Quan. Vừa ra khỏi Ðồng Ðăng, con đường dẫn về Nam Quan phía bên trái là núi đá vôi cao ngất, phía bên phải là đồi chập chùng. Ðương nhiên, nếu quan niệm về “ải” của tác giả ở cuối phần 1 là đúng, thì Ải Nam Quan bắt đầu vừa khi ra khỏi Ðồng Ðăng. Ải chấm dứt, cũng theo bản đồ này, là nơi chấm dứt núi đá vôi phía trái. Ðó là Bố Sa (không phải cửa ải Bố Sa), gần Quang Thiên Ải. Tức là chiều dài của ải ước lượng là từ 5 đến 6 cây số (từ Ðồng Ðăng lên cửa Nam Quan là 2,5 Km). Cổng Nam Quan như thế được xây ở giữa ải.

     
  • Ta thấy cách mô tả cổng Nam Quan trong Ðại Thanh nhứt thống chí phù hợp với hình vẽ cổng Nam Quan của ông Aumoitte: Hai bên cổng là núi đá cao ngất. Trên bản đồ 1894, ta thấy nơi xây cổng Nam Quan bên trái có núi đá (màu nâu đậm) nhưng bên phải thì không. Hình vẽ của ông Aumoitte vào năm 1881 cũng như sự mô tả của Ðại Thanh nhứt thống chí về cổng Nam Quan là lúc cổng này chưa bị tướng Négrier giật sập (năm 1884). Ta có thể cho rằng ÐTNTC viết sai, hoặc ông Aumoitte vẽ sai, nhưng không thể hai tài liệu một lúc cùng sai. Cổng hiện có trên các bản đồ hiện nay chỉ có thể được xây lại vào các năm 1884,1885,1886. Các bức hình hay các carte postale có hình cổng Nam Quan còn giữ được đều cho thấy phía tay phải của cổng là đồi đất mà không phải là núi đá. Tai sao? Câu trả lời sẽ là một nghi vấn, đúng ra, là một giả thuyết: có thể khi xây cổng lại, cổng mới không còn ở vị trí cũ. Ta khó có thể dựa vào khoảng cách đưa ra để khẳng định về một vị trí tuyệt đối của cổng Nam Quan. Vì cách đo không chính xác. Nhưng nội dung của sử liệu ÐTNTC và bức hình vẽ cổng Nam Quan cho phép ta có một nghi vấn hay đặt ra một giả thuyết. Vấn đề là nếu vậy thì cổng cũ ở chỗ nào? Câu trả lời ở trên thực địa và trong văn khố Quảng Tây (hay Bắc Kinh). Có nghĩa là ta đi dò tìm trên đoạn đường từ châu Bằng Tường đến Nam Quan, đoạn nào hai bên đường là núi đá, có dầu vết bức tường xây kéo dài lên núi, nơi đó có khả năng là vị trí cổng Nam Quan cũ. Tuy vậy, ta cũng có thể dò trên các bản đồ vùng Nam Quan để tìm thấy nơi nào hai bên đường đều là núi đá, tức được vẽ bằng màu nâu đậm. Trên bản đồ đính kèm, nơi mà hai bên đường có núi đá là kề cận Bố Sa, là nơi vửa vào ải. Giả thuyết này hợp lý hơn, nếu Ải Nam Quan có chiều dài như trên là 5 hoặc 6 Km, thì “cửa ải” phải là nơi bắt đầu vào ải. Vì thế, rất có thể cổng này đã bị Tàu dời về phía Nam khi bị giật sập. Vì nhu cầu phòng phủ mà họ phải dời cổng này đi. Khoảng cách cổng Nam Quan hiện nay và Đồng Đăng không có số chính xác. Không biết khoảng cách này hiện nay là bao nhiêu? Ta có thể xác nhận hay phủ nhận giả thuyết này qua các tài liệu hiện tồn trữ trong các văn khố Trung Quốc. Vấn đề là ai có thể làm việc này trong tình trạng hiện nay?

     
  • Đường biên giới theo Công ước Pháp - Thanh tại xác định cách cổng Nam Quan 100m về hướng nam.

     
  • Nếu quan niệm địa lý về “ải” của tác giả ghi ở phần 1 là đúng, Việt Nam được một phần ải, chiều dài từ Đồng Đăng đến đường biên giới. Thời Pháp thì dài khoảng 2,5km. Nếu “ải” không có ý nghĩa địa lý mà chỉ có ý nghĩa là nơi trấn thủ hiểm yếu, thì rất tiếc, ải ấy thuộc Tàu. Ta sẽ không tìm ra một tài liệu nào nói ngược lại.

Tài liệu tham khảo

Histoire des relations de la Chine avec l’Annam-Vietnam du XVI e au XIX e Siècle – Après des Documents Chinois (Lịch sử quan hệ Trung - Việt từ thế kỷ XVI đến thế kỷ thứ XIX – Viết theo tài liệu Trung Quốc). Tác giả G. Devéria, Paris Ernest Leroux 1880.

La frontière Sino-Annamite (Biên giới Trung Việt). Tác giả Devéria, Paris Ernest Leroux, 1886

Le Tour du Monde 1887

Tài liệu CAOM về phân giới Việt - Trung 1886-1897
Trương Nhâm Tuấn
http://nhantuantruong.blogspot.com/

Thưa Người Lao Động onl, có ai bảo đó không phải là cuộc chiến tranh xâm lược ???

Tôi khá bất ngờ khi đọc được một bài viết của giáo sư Vũ Minh Giang trên báo Người Lao Động , bài báo có nhan đề :
Về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung tháng 2.1979: Cần được xem như chiến thắng chống ngoại xâm
Bất ngờ không phải bởi vì có một người nói như thế , trong thế giới mạng đầy những thằng ngu như hiện nay thì có một người nghĩ như thế , thậm chí là nói và viết như thế cũng là chuyện thường ngày , điều kì lạ là ở đây lại là một giảng viên mà tôi rất kính trọng , một giáo sư -tiến sỹ ưu tú của trường Đại học Quốc gia Hà Nội  -khoa Lịch sử . Ông là người mà tôi lần đầu được biết đến qua một bài báo khoa học :"sở hữu ruộng đất: Một vài nhận xét từ lịch sử". Chính vì vậy tôi quyết định đọc kỹ bài viết , và càng đọc , tôi càng thương cho giáo sư khi đã bị tên phóng viên cố tình nói nhăng để xâm phạm đến uy tín của ông .
Thôi bàn chuyện dài dòng , bây giờ tôi xin giới thiệu cho các bạn một quan điểm về chiến tranh xâm lược :
XÂM LƯỢC, hành động của một nước (hoặc liên minh các nước) sử dụng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của một nước (vùng lãnh thổ) nhằm thực hiện quyền thống trị của mình đối với nước (vùng lãnh thổ) đó dưới các hình thức khác nhau.
Đấy chính là quan điểm được in trong từ điển BKQSVN và được toàn bộ các trường quân sự ở Việt Nam chấp nhận .
Như vậy ,ngài Vũ Minh Giang nói chiến tranh biên giới phía bắc cần xem như chiến thắng chống ngoại xâm ,tức từ trước đến giờ nó chưa từng được xem như là một cuộc chiến tranh xâm lược . 
Có phải thực như vậy không ? Các bạn có thể đọc tiêu đề một bài báo in trong thời kỳ này :
a
Như vậy chính bài báo cũng đã khẳng định chiến tranh này là một cuộc chiến tranh xâm lược với đầy đủ tính chất của nó , phù hợp với khái niệm quân sự về chiến tranh xâm lược , vậy mà Giáo sư vẫn cứ nói như nó chưa từng được xem như vậy , thật buồn lòng và cũng thật khó hiểu .
Phải trả lại vị trí cho những anh hùng đã hy sinh. Chúng tôi đã tiếp cận với rất nhiều bậc lão thành cách mạng, họ rất khắc khoải về cuộc chiến biên giới 1979.
Ban Bí thư cũng đã quyết định biên soạn bộ lịch sử Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh - mà chúng tôi gọi là bộ Quốc sử, tập trung những nhà sử học hàng đầu của Việt Nam. Một trong những nguyên tắc là không được bỏ qua các sự kiện lịch sử hàng đầu, trong đó có cuộc chiến biên giới 17.2.1979.
Tới đây, các sự kiện như Hoàng Sa, Trường Sa bị đánh chiếm, hay việc Trung Quốc đưa quân đánh Việt Nam năm 1979 cũng sẽ được đưa vào sách giáo khoa lịch sử. Nếu chúng ta không nói gì sẽ là mảnh đất màu mỡ cho xuyên tạc. 
Từng là một học sinh , tôi đã được tiếp cận đến cả SGK môn sử từ cấp 2 đến cấp 3 , và cả ở hai thời kì này đều có phần về lịch sử chống lại quân xâm lược Trung Quốc này , đều được nghe thầy giáo , tất nhiên chỉ là trường làng thôi chứ không phải là giáo sư hay tiến sỹ đọc lâm li về thời đại này . Có hay chăng là chúng ta chưa thông tin tôts cho học sinh về các quần đảo là Trường Sa hay Hoàng Sa , tuy nhiên ý thức chủ quyền và toàn vẹn vẫn được truyền thụ đầy đủ thông qua sách giáo khoa địa lý và thầy cô .
Những cắc cớ trong quan hệ lịch sử giữa các quốc gia phải xem như những cái hố, hay vết hằn lịch sử. Nếu cứ giấu giếm, hay bảo rằng không có, thì đó là cách che giấu lịch sử. Điều này không chỉ không được phép, mà còn có tội với các liệt sĩ, những người đã đổ xương máu bảo vệ đất nước. Nhưng một thái độ khác, bới sâu nó ra để gây hận thù lại là xuyên tạc lịch sử. Tội này cũng không kém việc che giấu lịch sử.
Có ai che giấu lịch sử không ? Có ai không biết đến các liệt sỹ không ? Không , tôi chưa từng đi đến những vùng biên viễn , chưa từng đến thăm nghĩa trang liệt sỹ nhưng trong tâm thức của người Việt Nam thì họ đã tồn tại , họ đã hy sinh , những ngôi mộ vẫn được chăm sóc , những ngày lễ kỉ niệm vẫn được thắp hương .Nhân dân không quên họ , không ai quên họ , những lời lẽ như cậu :
- Thưa Giáo sư, việc Việt Nam im lặng, trong lúc Trung Quốc chỉ trích Việt Nam tấn công đã gây tổn thương quan hệ giữa hai bên, khi  người dân Trung Quốc hiểu lầm về bản chất cuộc chiến, còn dư luận Việt Nam thì như đã nói ở trên. Theo ông, bài học nào cần rút ra?
- Tại diễn đàn Shangri La vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra thông điệp về lòng tin chiến lược. Đó là một ý tưởng lớn và hay. Nếu Trung Quốc thực tâm, cùng Việt Nam tìm hiểu bản chất sự thật thì sẽ gây dựng được lòng tin. Song nếu cứ “tôi đúng, anh sai” thì lòng tin khó gây dựng lắm.
Câu hỏi của phong viên làm cho chúng ta khó hiểu , Việt Nam im lặng bao giờ , Việt Nam đã từng im lặng , chúng ta đâu có im , chẳng qua những gì mà chúng ta nói cũng đã nói rồi , cái còn lại không cần phải như hai đứa trẻ con cãi đi cãi lại .
Chân Lý Thuộc Về Ai ? Thuộc về Việt Nam , vậy chúng ta đã có chân lý rồi , cần phải suốt ngày kêu gào như TQ hay không , dân tộc Việt Nam kiêu hùng có đủ lịch sử để tự hào , có cần phải ngụy tạo lịch sử hay không ?