Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Đông Nam Á:Trung Quốc hèn nhát và Việt Nam Vô địch

Lời dẫn : Để cho mọi người thấy rõ hơn thái độ của người dân Trung QUốc đối với Việt Nam trong vấn đề Dân Tộc- Chủ Quyền nên tôi đã lần mò ,la liếm ở mấy cái blog chuyên tung tin giật gân ,một kiểu " Quan làm báo " phiên bản Quan thoại để giới thiệu cho rõ . Có lẽ người ngoài thì sáng ,kẻ thù thì hiểu rõ , chúng ta cũng tìm hiểu thử xem vấn đề nhé xem có đúng hay không !( Nguyễn Linh )
Bài viết đăng trong blog 360 :
Trong lịch sử của thế giới có rất ít quốc gia dám xưng là Siêu Cường . Nhưng trong thế kỉ 21 , người Việt Nam reo hò ra khẩu hiệu "Bất khả chiến bại ".Việt Nam đã chiến thắng Pháp -Mỹ như là biểu tượng của cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân , cũng như đã chiến đấu vs ,dới " Láng giềng tốt ,đồng chí tốt " Trung Quốc trên cả mặt trận đất liền và biển đảo .Trong mối quan hệ Việt - Trung , bằng việc giải quyết những vấn đề tranh chấp về vịnh ( Bắc bộ ) hay biên giới trên đất liền a, Việt Nam cũng đang dần tiến hành chiến dịch Vươn khơi của mình tại biển Đông .
Với sự phát triển như vũ bão của mạng xã hội ngày nay , những ành động " vu khống " TQ đang diễn ra tại khắp mọi nơi kéo theo đó là tâm lý bài Trung Quốc đang diễn ra rộng khắp . bạn có thể thấy rõ điều đó qua những sáng kiến của chính phủ Việt Nam về vấn đề này . Ở Việt Nam ,hiếm có nhà báo nào lại không đề cập đến quan điểm Bài Trung Quốc này . Ví dụ : Tại Việt Nam, trong phim hoạt hình thì luôn luôn đề cao những tấm gương anh hùng đã chiến thắng sự xâm lược của Trung QUốc đối với Việt Nam trong khi đó các Phái viên Trung Quốc lại cúi đầu lẩn tránh khi nhìn thấy những bộ phim ấy . Ví dụ khác chính là sách giáo khoa , những thứ mà chính quyền Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam hiếm khi được đề cập ,và vì thế ,hình ảnh Việt Nam bất khả chiến bại đã được hình thành với sự bóp méo thậm tệ hình ảnh Trung Quốc trong tâm lý người Việt Nam đương đại .
33 Viên đá , 100kg cà phê được sử dụng để Công bố chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo .
Các phương tiện truyền thông Việt Nam thường đưa ra những thông tin suy xét về tình hình trên thực địa Biển Đông ,nhất là ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa ,có lẽ vì điều đó ,tinh thần yêu nước đang bùng cháy trong tim những người Việt Nam -Ngọn lửa tự do và chủ nghĩa yêu nước (đoạn này thêm 10 từ ).Tháng 6 năm nay (2011) Việt Nam xảy ra liên tiếp 2 cuộc biểu tình chống Trung Quốc chiếm đóng trái phép(dd) tại chủ quyền Việt Nam .Ngoài những cuộc biểu tình lớn chống TQ tại trước cửa đại sứ quan Trung Quốc tại Hà Nội , ở Nha Trang ngày 05/06/2011 cũng diễn ra tại quảng trường trung tâm với 1500 sinh viên xếp hình chữ S trong đó thể hiện đầy đủ chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo đang tranh chấp .
Ngoài bản đồ người , Việt Nam cũng có những bức ảnh đầy cảm xúc với những hạt cà phê . Theo báo " Người Lao Động " ngày 8/6 cũng diễn ra tại Nha Trang với hình bản đồ Trường Sa
Bản đồ cà phê  
3 Năm qua (tính đến năm 2011) tinh thần yêu nước của người Việt Nam ngày càng tăng cao và kết tinh hội tụ theo nhiều hình thức phức tạp .Ở Việt Nam ,tờ báo Tuổi Trẻ đã đăng tin rằng chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cùng với lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh ngày 01/09/2009 đã dựng lên bia đá chủ quyền quần đảo Trường Sa với 33 viên đá và 33 cây tượng trưng cho 33 đảo thuộc chủ quyền Việt Nam tại Trường Sa với 33 cột chủ quyền tại quận 9 .Theo BBC tiếng Việt ngày 5/06/2010 , ông Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu hải quân nhân dân Việt Nam sẵn sàng chiến đấu và làm thất bại bất cứ âm mưu nào của thế lực thù địch .
(căts bỏ những đoạn viết của tác giả về hoạt động tuyên truyền của Việt Nam về biển đảo )
Trung Quốc - người láng giềng lớn nhưng xấu bụng
Trong các cuộc biểu tình chống TQ trong thời gian gần đây luôn dơ cao biểu tượng : "Láng giềng Trung Quốc: Lớn nhưng xấu bụng"(Ko hiểu )

Trong bảo tàng lích sử Việt Nam ,nhiều cuộc triển lãm đã diễn ra với nhiều sự kiện kir niệm những người đã chiến thắng những triều đại phong kiến Trung Quốc .
Trước nay ,truyền hình Việt Nam thường phát sóng những bộ phim truyền hình có nguồn gốc từ TQ hay HQ ,nhưng giờ đây là các bộ phim về những anh hùng chiến đấu và chiến thắng do chính quyền sản xuất với những vị anh hùng mày rậm mắt lớn ,mạnh mẽ dũng cảm đối mặt với hình ảnh tham quan trung quốc hèn nhát cúi đầu tiêu cực (???)
Điều này càng rõ ràng hơn khi tại Trường Sa đã xuất hiện bức tượng chủ tịch Hồ Chí Minh ,cũng như đóng quân rạng san hô với tên Lý Thường Kiệt - Người anh hùng chống Tống của dân tộc Việt Nam- được biết còn là tên của 1 chiến hạm đã tham gia vào hải chiến Hoàng sa năm 1974.
Viện Nghiên cứu Đông Nam á của Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Quảng Tây ,cô Sun xiaoying đã phát biểu với Hoàn cầu thời báo là :Tâm lý chống Trung Quốc tại Việt Nam đã được chính phủ Việt Nam gián tiếp ủng hộ thông qua việc che dấu ,bôi đen lịch sử quan hệ tuyệt vời giữa 2 bên (nực cười ).Ví dụ ,cô ấy nhắc đến trận Điện Biên Phủ năm 1954 đã không nhắc đến sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của Trung Quốc .
Cô ấy cũng nói bản thân Việt Nam là một quốc gia luôn luôn bành trướng (=))_ điều đó được thể hiện ở việc Việt Nam từng chiếm đóng Nam Ninh cũng như xâm chiếm hoàn toàn Chiêm Thành .Cô ta tin rằng những mong muốn thiện chí ( nực cười ) của chính quyền Trung Quốc đã bị phía Việt Nam hiểu nhầm thành điểm yếu và lợi dụng .
Chuyên gia quân sự Trung Quốc Liu JiangBing đẫ trả lời Hoàn Cầu thời báo rằng mức độ phát triển quân sự ở Việt Nam là tiên tiến trong khu vực xung quanh biển Đông , và ngày càng tăng cường khi tiếp tục mua vĩ khí hiện đại của Nga . Quan trọng hơn ,quân đội Việt Nam là một đội quân được tôi rèn trong chiến tranh ,rất bình tĩnh và linh hoạt trong chiến tranh Việt Nam . Với việc đã đàm phán và kí kết xong phân định Vinh Bắc Bộ , Việt Nam đã có đủ cơ hội để tiến xa và mạnh tay hơn trong biển Đông , nhất là với tốc độ tăng trưởng Kinh tế- Quân sự như hiện nay .
Thời Báo Ấn Độ nhày 12 ,với vai trò là 1 khán giả , đã nói rằng hình ảnh siêu cường Trung Quốc phải được thử thách ở biển Đông , tờ NYtimes hay wall street fournal ngày mùng 8 cũng nói : Việt Nam sẽ tìm cách để có thêm bạn bè , tình cảm chống Trung Quốc sẽ được Việt Nam nhem nhóm có hiệu quả .
Câu khẩu hiểu mạnh mẽ : Việt Nam Vô Địch

Tăng tình cảm yêu nước của người Việt Nam trong và ngoài nước ,Viện Việt Nam của Viện Khoa học và Xã hội Trung Quốc đã hát biểu với Hoàn Cầu thời báo :"Có đến hàng trăm nghìn người Việt Nam ở Mỹ là tàn dư của chế độ cũ luôn chống phá nhà nước hiện hành ,nhưng đối với vấn đề biển đảo ,họ là Một ".Việt Nam chống Trung Quốc bắt đầu bằng cách đăng kí tham gia vào các mạng xã hội như FaceBook đã được người Việt Nam tại nước ngoài tiến hành thu thập chữ kí có trụ sở ở Ca Li để thu thập ý kiến đổi tên biển " Nam Trung Hoa " thành biển Đông Nam Á trong cách gọi quốc tế .
Ở Việt Nam có một câu khẩu hiệu nổi tiếng " Việt Nam Vô Địch " được hiểu theo nghĩa đen là " Việt Nam bất khả chiến bại " và bất cứ khi có đội bóng nước ngoài nào bị đội tuyển Việt Nam đánh bại , sẽ có hoạt động đeo băng đỏ ,cầm cờ đỏ sao vàng ,phóng xe máy trên phố để ăn mừng chiến thắng .Có thể nói Việt Nam Vô Địch là một ý thức dân tộc yêu nước mạnh mẽ của người Việt Nam.
Tại google ,khi bạn tra cứu một đoạn băng hài rằng: Việt Nam siêu cường ,bạn sẽ thấy những nội dung trong đó nói về : Học tiếng Việt ,văn hóa Việt để được một công việc tốt hơn , điều này như là đùa ,nhưng quả thật ,đấy chính là điều mà người Việt Nam luôn hướng đến với sức mạnh kinh tế tăng trưởng của mình .
Hết
Theo tôi ,càng đọc ,tôi lại càng thấy đây như là một người Việt Nam đang viết về đất nước thân yêu Việt Nam hay sao ấy :))
Bài gốc
东南亚特色:懦弱的中国和无敌的越南
http://www.360doc.com/content/11/0615/19/6472357_127191593.shtml

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Pháp Luân Công định kéo đổ tượng Lê-nin để làm gì ?

Có một câu hỏi ám ảnh tôi là tại sao những học viên "FLC" ( Họ không xứng được gọi là Pháp Luân Công ,đừng hiểu nhầm nhé các bạn ) lại muốn kéo đổ tượng đài Lenin ? Để làm gì ? Với mục đích thực sự là gì ?
Người định kéo đổ tượng đài Lenin , Giải thích với BBC về điều này, ông Kiên nói: "Lenin là một nhà độc tài nên việc hạ đổ tượng ông ta là việc quá chân chính, quá đúng" , ra vậy ,họ kéo đổ tượng đài Lenin vì ông là nhà độc tài ! Nhưng có thực như vậy không ? 
Lê-nin Người Bất tử chính là mối nguy hại của những kẻ FLC
Tôi đã từng được đọc 1 câu nói mang đậm chất thiền là :" Người ta chỉ chống lại những thứ người ta sợ hãi " Ứng vào hoàn cảnh câu chuyện này chúng ta nhận ra những kẻ đang muốn phá bỏ tượng đài Lê-nin kia đang sợ hãi .
Nếu như họ chỉ sợ hãi Lê-nin vì ông là một nhà độc tài ,thì họ đã không bao giờ làm thế ,bở lẽ Lê-nin của chúng ta đã ra đi 100 năm nay rồi ,không còn hiện hữu để duy trì cái mà ông Kiên gọi là " độc tài " nữa .
Vậy nếu như hiện tại họ vẫn còn sợ hãi Lê-nin đến mức phải phá bỏ tượng đài của ông chỉ còn một cách giải thích duy nhất : Lê-nin vẫn bất tử ,những học thuyết quan điểm của ông vẫn bất tử ,vẫn là mối lo ngại của bất cứ tên FLC nào trên đời này .
Quảng trường đỏ- dòng người viếng lăng Lê-nin vĩ đại 


Lý do này có thể giải thích cho tất cả mọi vấn đề mà nhóm FLC này đã làm ra . Có thể có người nào đó sẽ ngụy biện rằng họ kéo đổ tượng Lê-nin để chống lại cả những học thuyết và người kế tục ông nhưng xin thưa ,nếu như ý định của FLC là như thế thì đó là một nhầm lẫn tai hại hay đó là một sự vĩ cuồng ghê tởm ,một học thuyết ,một quan điểm tồn tại đến hàng trăm năm , là cơ sở của cả trăm đảng phái chính trji ,là ngon lửa soi sáng cho hàng chục thế hệ lại là thứ đáng bị gỡ bỏ nhưng vẫn còn tồn tại ,thì chúng ta nên trách Lê-nin hay trách những người dựa vào học thuyết- quan điểm đó để làm kim chỉ nam ,hay đơn giản là trách những kẻ luôn chống lại nhưng không chống được kia là VÔ NĂNG ,BẤT LỰC HẢ FÁP LUÂN CÔNG ?
Tại sao Fáp Luân Công lại muốn phá tượng Lê-nin?
Đây chính là trọng tâm vấn đề mà chúng ta cần nói đến . Lê-nin bất tử chính là bước cản khiến cho những học viên FLC phải kéo đổ ông , nhưng vấn đề không dừng lại ở đấy .
"Cộng sản Việt Nam chỉ là một cái vòi bạch tuộc của Cộng sản Trung Quốc, mà Trung Cộng đã bức hại Pháp Luân Công bao năm nay rồi.
 Bạn có cảm giác như thế nào khi đọc được câu nói này trên BBC ,hay nói đúng hơn là từ mồn học viên FLC ? Tôi thấy ở đây có 2 vấn đề : Những người tự nhận là FLC này chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam và họ không phục vụ cho lợi ích của người Việt Nam .
Thực ra ngoài những câu nói vô nghĩa trên ,chúng ta hoàn toàn có thể nhận ra được bóng dáng của những đồng tiền dơ bẩn ,lợi dụng việc phá bỏ tượng Lê-nin ,những kể FLC này đã tạo tiếng vang để kiếm tiền ,kiếm lợi nhuận tù những tổ chức phản động !
Họ sẽ bị ra sao ?
"Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
    Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
        a) Có tổ chức;
        b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
        c) Gây hậu quả nghiêm trọng;
        d) Để che giấu tội phạm khác;
        đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;
        e) Tái phạm nguy hiểm.
        g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.
    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
        a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
        b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
        a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
        b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
    Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."
Hay 

Điều 85. Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

  1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá, xã hội, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
  2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.
Như vậy những người tham gia vào vụ phá hoại tượng đài Lê-nin này cần được đưa ra trước tòa án và phán xét một cách dân chủ tội danh phá hoại mà ở đây tôi thấy gần với điều 85 bộ luật hình sự .
Nhưng lớn hơn cả những điều trên ,những học viên FLC này đã đi ngược lại những giá trji mà Pháp Luân Công luôn giao giảng ,về sự nhân ái , về sự từ chối trả thù .
Việc phá hủy ,trả thù ,phá hoại tài sản với mục đích đê hèn như thế ,tôi không thể hiểu nổi là tại sao họ còn tự nhận là học viên Pháp Luân Công nữa trong khi đã đi ngược lại tất thảy những tôn chỉ mà Pháp Luân Công và Thầy đặt ra .
Tượng Lê-nin không thể keo đổ ,Tà không thể thắng CHính , đây cũng chính là hồi chuông cuối cùng để cảnh báo những người khác ,những kẻ muốn lợi dụng Pháp Luân Công để biến thành FLC , phải tự suy xét lại bản thân mình , họ có 2 lựa chọn : Hoặc tu hành theo đúng Pháp Luân Công để đạt được Chân - Thiện - nhẫn ,hoặc lợi dụng PLC để đạt được mục đích đầy túi tham của mình .

Văn mẫu dành cho Phản động Trung Quốc

Lời tựa : thưa các bạn Phản động Trung Quốc, dù rằng ngôn ngữ hay nồi cơm của chúng ta khác nhau nhưng chúng ta có cùng mục đích là giật sập chế độ XHCN bằng mọi giá . Tranh chấp biển đảo giữa Việt Nam- Trung Quốc là mảnh đất màu mỡ cho chúng ta cày cuốc .. Vừa qua có vụ Tàu Hải Giám của các bạn bị Tàu Cảnh sát biển Việt Nam đuổi chạy , cơ hội đẹp thế mà các bạn tận dụng chưa triệt để, có vẻ các bạn rất non và xanh . Ngòi bút chống phá nhà nước của các bạn quá yếu kém, nên chúng tôi, Phản động xứ An Nam phải viết hộ các bạn một bài ngắn nhưng hội đủ tinh hoa văn phong- tập quán của chúng tôi trong nhiều năm để các bạn học tập. Hy vọng các bạn cho bài viết này vào “Tàng Kinh các” làm văn mẫu để đấu tranh cho dân chủ- nhân quyền cho Trung Quốc .
MỘT NHÀ NƯỚC HÈN YẾU VÀ NHỤC NHÃ
Biển Nam Trung Hoa và các quần đảo Tây Sa , Nam Sa là phần máu thịt của Tổ Quốc Trung Hoa mấy ngàn năm . Vậy mà nhà cầm quyền đã làm những gì để bảo vệ phần lãnh thổ thiêng liêng ấy ?
Khi những ngư dân yêu nước cắm Quốc Kì trên tàu cá của họ , khí thế bừng bừng muốn lên đường ra Nam Sa đánh bắt nhằm khẳng định chủ quyền lãnh thổ thì nhà cầm quyền đã ngăn cản , bức ép họ từ bỏ quyền yêu nước của mình . Ngày 11-12-2013 Tàu Hải giám nước CHND Trung Hoa bị tàu Việt Nam ngăn cản , bắt nạt ngay trong lãnh hải , nhà cầm quyền không một tiếng phản đối .Nhà cầm quyền còn không dám chỉ đích danh tàu Việt Nam mà dùng từ “tàu lạ”.( chi tiết xem tại http://www.youtube.com/watch?v=DZkp9o3HGbE). Ngày nay , bất cứ tàu bè  nước nào ra khơi đều có biển số kiểm soát và quốc kỳ nước đó. Chỉ có tàu cướp biển mới không có số hiệu và quốc tịch. Lẽ nào lực lượng tàu Hải Giám hùng mạnh ( được xây dựng từ tiến thuế mồ hôi nước mắt của nhân dân) đụng độ Hải Tặc ? Trong đoạn Video quay cảnh xung đột  ấy rõ ràng là các tàu Việt Nam có số hiệu và quốc kỳ Việt Nam, cớ sao nhà cầm quyền lại dùng từ “tàu lạ”mà không chỉ đích danh tàu Việt Nam ?
Nhà cầm quyền Trung Quốc đã quá hèn nhát và nhu nhược trước Nam triều. Nên  nhớ đây không phải lần đầu tiên hay duy nhất các tàu của bọn Bành trướng phương Nam xâm nhập lãnh hải , hành vi ngang ngược của bọn chúng  là quá trình được lặp đi lặp lại . Và bao giờ phản ứng của của nhà cầm quyền cũng chỉ là lên án “tàu lạ” nào đó .  Tại sao người dân Trung Quốc không được phép biết tường tận mà chỉ biết mơ hồ qua các báo cáo , phát ngôn qua loa như vậy. Quyền được biết là quyền cơ bản của công dân ở bất cứ một quốc gia tự do dân chủ nào . Khốn thay “Quyền được biết” là thứ xa xỉ của nhân dân Trung Hoa , không biết bao giờ họ mới có được quyền này ..
Nhiều năm  gần đây , nhà cấm quyền rầm rộ đầu tư cho Hải quân với các hợp đồng mua bán vĩ khí rất lớn . Tiền mua khí tài là tiền của nhân dân đỏ mồ hôi nước mắt làm ra chứ nào phải tiền túi của các lãnh đạo Cộng Sản ở Trung Nam Hải . Nhà cầm quyền dùng tiền  cùa nhân dân mua sắm vũ khi chỉ nhằm mỵ dân ,lừa họ tin vào quyết tâm bảo vệ lãnh thổ trước chủ nghĩa bá quyền của Nam triều mà thôi .
Nhà cầm quyền bộc lộ bản chất hèn yếu nhu nhược trước Nam Triều trong sự kiện Tàu  Hải giám bị săn đuổi vừa qua . Than ôi , Tổ Quốc có bao giờ nhục như thế này chăng ? Nhìn những con tàu của bọn An Nam ngang nhiên đi lại trên lãnh hải cứ như các vết dao đâm vào máu thịt Trung Hoa . Lịch sử Trung Hoa mấy ngàn năm có bậc minh quân và cả hôn quân bạo ngược nhưng chưa có vị vua nào làm mất thể diện dân tộc như nhà cầm quyền hiện nay ..
Những người Trung Quốc có lương tri đều ngày đêm canh cánh nỗi băn khoăn “Trung Quốc sẽ về đâu”. Các lãnh đạo Trung Quốc thần phục Nam triều vì địa vị và lợi ích của họ , Nhân dân Trung Hoa, thể diện Tố Quốc bọn họ không xem vào đâu .Rõ ràng là một nhà cầm quyền đặt lợi ích của họ lên trên lợi ích, danh dư  Tổ Quốc  không thể xứng đáng cầm quyền . Hỡi những nhân dân Trung Quốc , đã đến lúc chúng ta phải đứng dậy bảo vệ Tổ Quốc chúng ta ,tinh thần ái quốc m tinh thần dân tộc thúc đẩy chúng ta trở về với di nguyện tổ tiên
“ chống Việt Nam hay là chết “
Bao Bất Đồng 
Phụ đề chứng minh
马近军研究员认为,“在争议岛屿上搞选举,越南的意图很明显—就是要向外界宣称这些岛屿属于越南所辖领土,因此中国无权干涉”。(Nhà nghiên cứu Ma nói rằng những hành động của Việt Nam cho thấy TQ không có quyền cam thiệp vào tình hình ở đây (Quần đảo HS-TS))
Hay như trong blog của Phụng Hoàng Biển Nam Hải và sự yếu kém của chính quyền TQ
Hay Sự hèn nhát của chính quyền TQ- Việt Nam bất bại nói : Những quan chức chính phủ TQ luôn cúi đầu trước những bộ phim hoạt hình của Việt Nam kể về chiến thắng chống lại quân đội TQ xâm lược trong lịch sử !(
Vì vậy những gì tác giả Bao Bất Đồng nêu trên không chỉ còn là một mẩu chuyện hài mà còn là một sự thật ,một sự thật khôi hài .


Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Cộng Sản cướp công ?!!

Chương 10 -tiểu thuyết Ván Bài lật ngửa 
Đã có nhiều người nói đến sự cướp công của Cộng sản ,về vị thế của những người " quốc gia " trong quá trình đả thực phong , và chỉ bằng một đoạn văn ít ỏi , tác giả đã lột tả được nguyên vẹn những ý kiến xác đáng về luận điệu này của bè lũ phản cách mạng ,phản quốc
- Tôi hỏi nghiêm chỉnh: Ông định làm gì? 

- Đó là một câu hỏi hòa bình. Tôi là một người lính, vì là lính, tôi quí trọng hòa bình. Nói cho cùng, chúng tôi đổ máu để vĩnh viễn chấm dứt đổ máu. Tôi sẽ làm tất cả những gì vì nền hòa bình bền vững sau khi đã làm tất cả những gì vì nền độc lập mà tất cả chúng ta đang hưởng… 

Nhu nhìn Luân soi mói: 

- Ông xác tín rằng việc của ông làm trong chín năm là đúng đắn? 

- Có lẽ ông Nhu còn biết rõ hơn tôi là điều tin tưởng đó không chỉ của riêng tôi, của những người kháng chiến chúng tôi. Chẳng lẽ ông không tin như vậy? 

- Cuộc kháng chiến lúc đầu phù hợp với ý nguyện toàn dân, song càng về sau, Cộng sản cướp công, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc biến thành cuộc đấu tranh ý thức hệ. 

Luân vụt cười to. Giám mục không biết phải làm gì, đành sớt những miếng thịt bò bít tết thơm lừng vào đĩa Nhu và Luân: 

- Mời các vị… 

Nhu châm quẹt đốt một điếu thuốc, nén bực bội. 

- Tôi xin lỗi đã cười. – Luân dằn từng tiếng – Ông Nhu có thể cho tôi khiếm nhã. Song, câu hỏi của ông Nhu thật đáng tức cười. Tôi không nghĩ ông Nhu sẽ hỏi như vậy. Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Tường Tam, Bảy Viễn và những người tương tự, không phải là học giả, họ không biết phải tự bào chữa cho thái độ ươn hèn của họ không dám theo đuổi sự nghiệp kháng chiến đến cùng bằng cách nào, nên dùng câu hỏi đó. Còn ông, một người học cao, đọc nhiều sách, nổi tiếng là một nhà tư tưởng lớn, không nên lầm lẫn như vậy… 

Nhu rít một hơi thuốc thật dài. 

- Tôi lầm lẫn ở chỗ nào? 

- Ông có nhận ra cuộc kháng chiến mang lợi ích rõ ràng nhất về cho ông Ngô Đình Diệm hay không? Hay là ông nghĩ sự quay 180 độ của người Pháp – từ sa thải đến trọng dụng ông Diệm – là hảo tâm của họ? Ông có thấy nếu không có cuộc kháng chiến, nếu cuộc kháng chiến không đi đến thắng lợi – thì ông Diệm phải lưu vong suốt đời hay không? Hiển nhiên là Phạm Quỳnh sẽ giữ ngôi vị của ông ta. Ngay ông, ông Nhu, chắc còn phải chôn vùi tháng ngày ở thư viện… Những người kháng chiến chẳng những không cướp công mà đã chia công, thậm chí, trên một nghĩa nào, đã chia công cả cho những người chẳng có một chút công, nếu không nói là có tội! Thế mà, bỗng nhiên vang lên điệp khúc: Cộng sản cướp công… Chuyện của Laurel, Hardy, chuyện của Fernandel (2)… sao lại chen vào đây? 

Giám mục lo lắng. Ông thấy mặt Nhu như dài hẳn ra. Luân đã bổ một cú “nốc ao” vào tính tự phụ của anh ta. 

- Người khác hô hoán về “Cộng sản cướp công” thì khả dĩ còn hiểu được. Đến ông Diệm, ông Nhu mà cũng phụ họa theo, thật kỳ quặc. Những người kháng chiến ròng rã chín năm chịu cực chịu khổ đủ điều, hy sinh mạng sống, bỗng bị lên án là kẻ cướp công! Ông Nhu không thấy tính cách khôi hài trong lập luận này sao? Ông còn nói đến cuộc đấu tranh ý thức hệ. Tôi nghĩ rằng một số người quen miệng nói mãi rồi tự kỷ ám thị mình nói đúng. Quả có sự tranh chấp ý thức hệ thật: Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh ngoài Bắc, Bảy Viễn, Nguyễn Hòa Hiệp trong Nam, chưa đánh Pháp đã đầu hàng Pháp, họ muốn cả dân tộc hạ vũ khí, trở lại thân nô lệ. Tuyệt đại đa số người kháng chiến không chấp nhận sự phản bội, quyết kháng chiến đến thắng lợi. Đó là cuộc đấu tranh ý thức hệ… 

- Ông cuồng tín quá! - Nhu vớt vát. 

- Hình như ông Nhu muốn ám chỉ sự cuồng tín của những người Cộng sản. Tại sao lòng yêu nước nồng nhiệt không thể có ở người Quốc gia? Vô tình, ông Nhu đẩy người Quốc gia về phía những kẻ đầu óc trống rỗng. 

- Không! – Nhu cải chính – Tôi không nói như vậy. Dù sao, người Quốc gia trong kháng chiến cũng không có quyền… 

- Tôi chờ câu nầy của ông. Lại một giả định mà như có thật. Ông nói quyền gì? Tôi là một người kháng chiến không thiếu một ngày, tôi có quyền không? – Luân bỗng cười: - Tiếc rằng đây là thị xã Vĩnh Long, nơi các ông quản lí, tôi không có cách gì chứng tỏ một người Quốc gia kháng chiến có quyền tới đâu. Tôi là một chỉ huy, tôi có quyền đánh giặc. Và, không phải để khoe khoang, tôi cần thưa: tôi đánh giặc không kém lắm, được khá nhiều huân chương quân công. Anh tôi, một phó chủ tịch, anh ấy có quyền, như luật pháp chính phủ quy định cho một phó chủ tịch. Tôi muốn nói thẳng với ông Nhu điều nầy: các ông phạm một thiếu sót lớn, ông cho phép tôi gọi như vậy, đó là các ông đối địch với cuộc kháng chiến. Nhất là đối địch khi kháng chiến đã đánh bại Pháp, kẻ chiếm nước ta ngót trăm năm, thậm chí không sánh nổi Bảy Viễn, Năm Lửa. Người Mỹ cung cấp cho các ông nhiều thứ, song họ không thể cung cấp cái chất dân tộc dữ dội nầy, tất nhiên, trừ thứ giả… 

Nhu húng hắng ho. Anh ta bắt đầu nhìn Luân bằng những tia mắt khang khác. 

- Anh hùng biện quá! 

- Tôi nổi tiếng là người nói dở. Chẳng qua, tôi bảo vệ sự thật. 
Nguyễn Trương Thiên Lý 

“Bằng chứng lịch sử” của Trung Quốc cho chủ quyền ở Biển Đông: có thật hay thêu dệt ?


Mặc dù căn cứ lịch sử ít có sức nặng trong tranh chấp lãnh thổ theo luật quốc tế nhưng hiện nayTrung Quốc (TQ) vẫn nhấn mạnh tới cơ sở này và cố thuyết phục thế giới bằng cái mà họ cho là bằng chứng lịch sử cho chủ quyền của họ ở Biển Đông, đặc biệt là ở quần đảo Trường Sa. Điều này có thể thấy rõ trong 2 sự kiện nóng mới đây là vụ dằng co của TQ với Philippines ở bãi cạn Scarborough và việc TQ mời nước ngoài đấu thầu thăm dò khai thác dầu khí ngoài khơi Việt Nam, cả hai vụ đều trong vùng đặc quyền kinh tế của hai nước tương ứng. Vì thế, việc xem xét kĩ càng các lập luận của TQ để thấy rõ xem họ thật sự có “bằng chứng không tranh cãi” hay không là điều rất đáng làm. Trong phần thảo luận dưới đây, lập luận chính thức của TQ như được công bố trên trang mạng của Bộ ngoại giao TQ (BNG TQ)[1] cả phiên bản tiếng Trung lẫn tiếng Anh sẽ được dùng và đối chiếu với nhau khi cần thiết. TQ đưa ra 3 lập luận chính: (1) TQ là nước đầu tiên khám phá và đặt tên quần đảo Trường Sa, (2) TQ là nước đầu tiên khai phá quần đảo Trường Sa,và (3) TQ là nước đầu tiên thực thi quyền tài phán trên quần đảo Trường Sa.
Vì lập luận của TQ đi ngược trở lại hơn 2000 năm trước nên một số hiểu biết về thế giới gian cổ của người TQ có thể sẽ bổ ích.
Theo quan niệm truyền thống, người TQ cho rằng TQ là nước trung tâm của thế giới và chỉ có người TQ là văn minh còn tất cả các dân tộc khác đều không văn minh hoặc man rợ. Trật tự thế giới theo quan niệm xưa của người TQ có thể phác hoạ bằng hệ thống triều cống (thiên triều - chư hầu) như thể hiện trong sơ đồ sau:
Để gọi các dân tộc khác ở ngoài biên giới TQ, họ dùng từ di (夷: man rợ) với hàm ý ít nhiều miệt thị.[2] Cụ thể hơn, họ dùng từ man (蛮) hoặc nam man để chỉ các dân tộc phía Nam, di (夷) hoặc đông di để chỉ các dân tộc phía đông,nhung (戎) hoặc tây nhung cho các dân tộc phía tây và địch (狄) hoặc bắc địch chỉ các dân tộc phía Bắc, và còn dùng từ tứ di (四夷) để chỉ chung bốn nhóm người này.[3] Về mặt lịch sử, đúng là một số trong số tứ di này, chẳng hạn như người Tạng, Mông, Mãn, Hồi… và lãnh thổ của họ (nay là Tây Tạng, Nội Mông, Thiểm Tây, bắc Sơn tây…) hiện nay là một thành phần của TQ. Nhưng cũng đúng là cùng với các dân tộc di khác như Triều Tiên, Miến Điện, Thái Lan…, người (Lạc) Việt[4] và lãnh thổ giáp với biển Đông của mình (tên cũ là Giao Châu, Giao Chỉ, Văn Lang, Nam Việt, Đại Việt…) từng rơi vào sự thống trị trực tiếp hoặc từng là nước chư hầu của TQ trong quá khứ nhưng cuối cùng thì dân tộc này đã trở nên độc lập hoàn toàn vào thế kỉ 20.
Bây giờ chúng ta hãy trở lại với lập luận của TQ.
  1. TQ cho rằng họ là nước đầu tiên khám phá và đặt tên cho quần đảo Trường Sa và “bằng chứng” đưa ra là một số sách và bản đồ cổ.
Trước hết, chúng ta xem xét 3 quyển sách cổ chủ chốt mà họ có nêu với chi tiết cụ thể.
  • Quyển đầu tiên là Dị vật chí (异物志) của Dương Phu đời Đông Hán (23-220). Quyển sách là “một sưu tập các bài viết…liên quan đến những thứ kì dị, những sự kiện quan trọng và văn hoá của các vùng giáp giới với TQ[5] (người viết nhấn mạnh)” như phản ánh trong tựa sách. Từng chữ một thì từ dị (异) có nghĩa “khác/lạ/bất thường,” vật (物) “vật/đồ vật” và chí (志) “sách/truyện kể”. Nói cách khác đó không phải là “Sách ghi những thứ hiếm hoi” (Records of Rarities) chung chung như cách dịch trong bản tiếng Anh. Hơn nữa, theo ghi nhận thì sách này đã “bị các thế hệ sau này chỉnh sửa nên hiện nay không tìm được bản gốc chưa bị chỉnh sửa.”[6] Cũng lưu ý thêm là quyển sách còn có tên là Giao Châu dị vật chí  hay Giao Chỉ dị vật chí vì nó chủ yếu nói về các “vật lạ kì” ở Giao Châu/Giao Chỉ[7]  (tên xưa của Việt Nam) và cũng để phân biệt với hơn 20 quyển sách khác cùng tên chẳng hạn nhưNam Châu dị vật chí của Vạn Chấn đời Ngô (222-280) vể vật lạ ở phía Nam TQ (phía nam vùng châu thổ Châu Giang), Phù Nam dị vật chí của Chu Ứng đời Ngô nói về vật lạ ở Phù nam (Campuchia hiện nay)…. Trong toàn cảnh như vậy, lời trích “Trướng hải khi đầu, thuỷ thiển nhi đa từ thạch” (涨海崎头, 水浅而多磁石: [Ở] các đầu đá ngầm [trong] Trướng Hải, nước cạn nhưng [có] nhiều đá từ tính) chỉ có thể hiểu là một mô tả của một cái gì đó kì lạ (ở đây là đá có từ tính[8]) ở biển Giao Chỉ và cũng có thể nói ở biển [ngoại] Hán vì Giao Chỉ lúc đó chịu sự thống trị của nhà Hán (chứ không phải của TQ hiện nay). Nhân đây hãy xét thêm tới câu giải thích của BNG TQ ngay sau trích dẫn này. Quả cũng khá hợp lí khi giải thích Trướng Hải là biển Đông vì biển Giao Chỉ là một phần của biển Đông hiện nay.[9]  Tuy nhiên nói rằng khi đầu (崎头: [các] đầu rặng đá ngầm) là toàn bộ các đảo nhỏ, rạn đá, bãi cạn, bãi ngầm… ở biển Đông, kể cả Hoàng Sa, Trường Sa là khiên cưỡng trừ khi TQ đưa ra được bằng chứng và có thể chỉ ra được cụ thể tất cả hay đa số các đảo, đá, bãi… trong biển Đông có nhiều đá có từ tính như câu trích dẫn mô tả. Rủi thay, theo các dữ liệu đã biết, mặc dù có một số nơi trong biển Đông có bất thường về từ trường nhưng hầu hết các đảo, đá, bãi… này đều cấu tạo bằng san hô hoặc cát đá thường không có từ tính.  Ngoài ra, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng không nằm trong khu vực biển Giao Chỉ[10] mà nội dung quyển sách muốn nói tới. Vì thế chúng ta không loại trừ khả năng Dương Phu chỉ viết những gì ông nghe người dân Giao Chỉ nói mà thôi, kể cả hư cấu thêm. Do đó, suy diễn từ câu trích dẫn trên để nói rằng TQ là nước đầu tiên khám phá và đặt tên cho Trường Sa là gán ghép.
  • Quyển sách thứ hai là Phù Nam Truyện (扶南传: Chuyện Phù Nam) của Khang Thái, một vị quan nhà Đông Ngô với chức vụ là Trung Lang.[11] Vào năm 226, Khang Thái và Chu Ứng (chức vụ Tuyên hoá tùng sự) được vua Ngô là Tôn Quyền[12] phái đi sứ Phù Nam qua đường biển Đông. Lúc trở về Khang Thái viết Phù Nam Truyện, truyện này hiện nay đã bị mất nhưng thường được trích dẫn ở nhiều sách khác.[13] Dù vậy, dựa vào khung cảnh ra đời và ý nghĩa của từ Truyện (传) trong tựa quyển sách, có thể chắc chắn rằng nội dung của nó là những gì Khang Thái trãi qua khi đi sứ tới Phù Nam. Điều này có nghĩa là đó chỉ là một sách kể truyện chủ yếu liên quan tới chuyến đi sứ, chưa chắc là những cái không ai biết hoặc những cái thuộc TQ. Đó cũng không là báo cáo chính thức trình cho vua duyệt. Vì vậy, cũng giống như trường hợp Dương Phu, cùng với những gì trực tiếp mắt thấy tai nghe, có thể Khang Thái viết cả những gì ông ta chỉ được nghe mà thôi. Như vậy, câu trích dẫn mô tả các đảo mà BNG TQ nêu ra khó có thể là một căn cứ đề nói rằng Khang Thái hay phái bộ của ông ta là những người đầu tiên khám phá ra các đảo này.
  • Quyển sách thứ ba là Đảo di chí lược (岛夷志略) của Uông Đại Uyên, một nhà du lịch TQ (không phải là một nhà hàng hải [nổi tiếng] như nêu trong bản tiếng Anh) thời nhà Nguyên (1280-1365). Chú ý rằng từ di (夷) trong tựa sách là những dân tộc man rợ nói chung hoặc ở phía đông TQ như nêu trên, nên đảo di có nghĩa là những người di ở các đảo. Như vậy, tựa quyển sách có thể dịch tương đối chính xác là Sách tóm lược về những dân tộc di ở đảo.Và do đó, mọi mô tả về khí hậu, thời tiết, địa lí… trong quyển sách phải được hiểu là liên quan tới người di ở đảo (đảo di) không phải liên quan tới người TQ. Không rõ do cố ý hay hạn chế của người dịch, tựa quyển sách trong bản tiếng Anh lại là “Sách ghi chép ngắn về các đảo và các người man rợ” (Abridged Records of Islands and Barbarians). Điều này rõ ràng làm người đọc hiểu lầm là sách nói tới đảo và người man rợ chung chung chứ không phải nói về người di ở đảo và những thứ dính dáng tới họ. Ngoài ra, theo taiwanwikipedia trực tuyến thì nội dung quyển sách cũng có chứa một số chi tiết mâu thuẫn với lịch sử và thực tế.[14] Trong bối cảnh như vậy, bất kì mô tả chi tiết nào trong sách liên quan đến các đảo như BNG TQ trích dẫn đều không có sức nặng thuyết phục rằng TQ là nước khám phá các đảo này đầu tiên.
Nói tóm lại, cả 3 quyển sách mà BNG TQ nêu với chi tiết chỉ là các truyện kể thậm chí có hư cấu thêm, không là các tài liệu lịch sử chính thống. Hơn nữa, một cuốn thì không còn nguyên bản, một cuốn thì đã bị mất, còn cuốn còn lại thì có chứa các chi tiết không chính xác, thiên lệch. Đặc biệt là các trích dẫn mà BNG TQ rút ra từ chúng, nếu theo bản gốc như thảo luận trên, có vẻ phản lại hơn hậu thuẫn cho lập luận của TQ.
Bây giờ chúng ta xét tiếp tới các bằng chứng bản đồ. BNG TQ nêu ra 2 ‘bản đồ’ với nhiều chi tiết.
  • Bản đồ thứ nhất là Hỗn nhất cương lí lịch đại quốc đô chi đồ (混一疆理歷代國都之圖: tạm dịch là ‘bản đồ hợp nhất ranh giới và các kinh đô của các triều đại trong lịch sử’). Trong bản tiếng Anh, tên bản đồ được dịch là ‘Bản đồ hợp nhất các vùng lãnh thổ và địa lý và kinh đô của các triều đại trong quá khứ’ (Consolidated Map of Territories and Geography and Capitals of Past Dynasties) và BNG TQ nêu rằng bản đồ này được làm ra vào thời Minh. Các thông tin này thật ra không sai nhưng khá mập mờ. Bản đồ đúng là được làm ra vào thời Minh (1368-1644). Nhưng cụ thể hơn, nó là một một bản đồ thế giới được các quan lại Triều Tiên tên là Kim Sa-hyeong (金士衡 Kim Sĩ Hành),Yi Mu (李茂 Lí Mậu), và Yi Hoe (李薈 Lí Hội) tổng hợp vẽ ra vào năm 1402. Hiện ngay người ta chỉ biết có 2 bản sao của nó nhưng trớ trêu là cả hai đều nằm ở Nhật, không có bản nào ở TQ và cũng cho thấy có những điều chỉnh sau này trên bản đồ.[15] Phía dưới bản đồ còn có lời nói đầu do Gwon Geun (權近 Quyền Cận) viết. Cũng để ý là trong hệ thống triều cống, TQ có quyền lực để thu tóm hầu như mọi tin tức kể cả về địa lí của các nước chư hầu,[16] ngay chỉ thông qua các cống vật,[17] và các nước chư hầu cũng có thể biết tin tức của nhau qua trao đổi sứ thần….[18] Vào lúc đó Nhật, Triều Tiên và Việt Nam đều là chư hầu của nhà Minh[19] và đặc biệt là Việt Nam đã từng bị TQ thống trị trực tiếp. Hơn nữa, vào lúc đó ngôn ngữ viết chính thức hoặc phần cốt lỏi của ngôn ngữ viết của cả 3 nước này lại chính là chữ Hán. Trong những điều kiện như thế, quả là hết sức đáng ngờ khi khẳng định rằng TQ là nước đầu tiên đặt tên cho quần đảo Hoàng sa, Trường Sa… từ các từ ‘Thạch Đường”, “Trường Sa” do Gwon Geun viết trên bản đồ.
  • ‘Bản đồ’ thứ hai là Canh lộ bạ (更路簿: ‘bản đồ đường’ – theo cách dịch của BNG TQ[20]) đời nhà Thanh mà BNG TQ nói rằng “có đánh dấu các địa điểm cụ thể của tất cả các đảo, rạn đá, bãi ngầm, đảo nhỏ của quần đảo Nam Sa…” Cách dịch ở đây cũng có điểm chưa thật chính xác và cách diễn đạt lại khá mù mờ. Với thông tin như vậy, người đọc có thể nghĩ rằng Canh lộ bạ là một bản đồ chính thức trong thời nhà Thanh. Thật ra, đó là một quyển ghi chép (bạ 簿 có nghĩa là một cuốn sổ ghi chép) của dân gian với các hình vẽ đường đi biển ( từ kinh nghiệm của các ngư dân Hải Nam.[21] Do vậy, thời điểm Canh lộ bạ ra đời khó có thể xác định và kiểm chứng rõ ràng. Hiện nay TQ chỉ mới tìm thấy và sưu tập được một số bản chép tay với nội dung không thật đồng nhất. Tính tinh cậy của nội dung các bản chép tay này do đó cũng rất khó xác định. Do bản chất không chính thức và không nguyên bản hiển nhiên của Canh lộ bạ nên ngay cả khi các thông tin trong đó là đúng thì Canh lộ bạ cũng chỉ có thể là một cơ sở yếu ớt hậu thuẫn cho lập luận của TQ. Ngoài ra, theo quan điểm pháp lí và tập quán quốc tế thì ngư dân TQ với tư cách là các cá nhân tư nhân không thể đại diện cho nhà nước TQ trong việc khám phá ra các đảo này.
Như vậy, hai bản đồ cổ chủ chốt này cũng có nhiều điều đáng ngờ giống như các sách cổ nêu trên nên khó lòng có thể hậu thuẫn cho lập luận của TQ.
Trong khi BNG TQ không thể đưa ra được một bản đồ nào ra hồn hậu thuẫn cho đòi hỏi chủ quyền của họ, trên mạng lại có nhiều bản đồ “cổ” thoạt nhìn có vẻ làm được việc này, chẳng hạn như bản đồ sau đây (hình 2).
Tuy nhiên, dễ thấy rằng bản đồ này có những điều chỉnh hiển nhiên vì nó có chứa cả đường 11 chấm mà cho mãi tới năm 1947 mới được vẽ ra lần đầu[22] và các chữ “tranh chấp với An Nam” dù lúc đó An Nam là một nước chư hầu không thể nào dám tranh chấp với thiên triều nhà Thanh, và cùng với những điều chỉnh khác nữa.
Trong khi đó lại có rất nhiều bản đồ và sách địa lí chính thống phản lại lập luận của họ. Chẳng hạn như về sách cổ, trong Đại Nguyên nhất thống chí (大元一统志), Đại Ming nhất thống chí (大明清一统志),Đại Thanh nhất thống chí (大清一统志), Thanh Sử Cảo (清史稿)… không có địa danh nào có tên Tây Sa, Nam Sa hoặc các tên tương tự chỉ hai quần đảo này, hay trong Minh Sử (明史) ngay cả Đài Loan cũng không được nói tới.[23].Về bản đồ, có Mao Khôn đồ (茅坤图: bản đồ Mao Khôn) in trong tập sách toàn thư về quân sự Vũ bị chí (武備志)[24] cuối triều Minh có bản lưu ở Thư viện quốc hội Mĩ, Hoàng dư toàn bản đồ (皇舆全版图) là bộ bản đồ địa lí Trung Quốc được đo vẽ trên thực địa trên phạm vi toàn quốc theo chỉ dụ của vua Khang Hy với sự chủ trì của các giáo sĩ phương Tây từ năm 1708-1718, hay Đại Thanh nhất thống toàn đồ (大清一统全图) hiện có bản lưu ở Thư viện quốc gia Úc ở Canberra(xem hình 3).[25]…. Tất cả bản đồ này đều nhất quán với các sách trên ở chỗ: lãnh thổ TQ kết thúc ở phía Nam với đảo Hải Nam.
Hình 3: Đại Thanh nhất thống toàn đồ (大清一统全图, tựa bản đồ đọc từ phải qua)
Đặc biệt là J.V.G. Mills, một học giả Anh vào năm 1970 (nghĩa là trước khi xảy ra các xung đột ở biển Đông manh nha nổ ra năm 1973, và không có một ý niệm nào về mục đích chính trị hiện nay) dựa vào nhiều công trình rất đáng tin cậy kể cả Minh Sử, Mao Khôn đồ và Doanh nhai thắng lãm giáo chú (瀛涯胜览校注: Khảo sát tổng thể bờ biển [1433]),[26]… đã nhận dạng và lập ra danh sách không dưới 715 địa danh ở Đông Nam Á và Ấn Độ Dương nhưng không thấy có tên một rạn đá, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa trong những địa danh đã được ghi chép trong danh sách này[27]
Theo lẽ thường khi có bằng chứng vững chắc thì người ta sẽ trình ngay ra trước để bảo vệ lập luận của mình một cách hiệu quả. Như thảo luận trên, tất cả các sách cổ mà BNG TQ nêu ra với chi tiết để hậu thuẫn cho lập luận của họ thì hoặc là bị chỉnh sửa hoặc là không còn, đặc biệt là chúng chỉ là sách kể chuyện thậm chí có hư cấu, không có tính lịch sử, hơn nữa nội dung của chúng lại nói về những thứ bên ngoài biên giới TQ (Giao Châu, Di, Phù Nam) mà BNG TQ muốn bẽ ngoặc thành của TQ. Còn các bản đồ mà họ chú trọng nhiều hơn thì cũng không chính thống và cũng không nguyên gốc. Vì vậy, khó có thể chấp nhận mà không nghi vấn về tính tin cậy của ‘rất nhiều sách sử địa’ hoặc ‘hơn cả trăm loại sách’ và bản đồ mà họ nêu ra chung chung, dù trong đó cũng có một số là tài liệu chính thống.
Ngoài ra, nếu xét thêm các sự kiện lịch sử khác liên quan tới việc đi lại trên biển trong toàn vùng thì lập luận của TQ còn đáng ngờ hơn nữa. Có thể nêu ra ở đây vài sự kiện như vậy: Nhật Nam (nay thuộc tỉnh Quảng Nam) từng có phái bộ của La Mã đến vào năm 166,[28] Óc Eo (nay ở Nam Việt Nam) có thể từng là một hải cảng nhộn nhịp của Phù Nam từ thế kỉ 1 tới 7 và giao dịch cả với người La Mã, Ấn Đô, Ba Tư, Hi Lạp…,[29] và người Chàm hiện sống ở miền Trung Việt Nam, là con cháu của các di dân gốc Malayo-Polynesian  từ Borneo tới vùng đất liền Đông Nam Á vào thời đại văn hoá Sa huỳnh thế kỉ 2 và 1 trước Công nguyên[30] …Các sự kiện này cho thấy là các dân tộc này có nhiều khả năng đã đi lại và khám phá các đảo trong biển Đông trước người TQ.
Mặc dù cũng cho rằng TQ là nước đầu tiên đặt tên cho các đảo nhưng BNG TQ không trình bày điều gì đặc biệt hơn ngoài việc nêu ra một vài tên gọi như Trướng Hải, Khi Đầu, Thạch Đường, Vạn lí Trường Sa….  trong lập luận của họ. Để biết điều này có đúng không, chỉ cần so sánh một ít tên các đảo bằng tiếng Trung với tên quốc tế bằng tiếng Anh tương ứng như: Bei dao = North Island, Shi dao = Rocky Island,Nansha zhou = South Sand,…, Anbo shazhou = Amboyan Cay, Xidu tan = Dido Bank, Mengzi Jiao = Menzies Reef, Aoyuan Ansha = Owen Shoal,Zhubi jiao = Subi Reef, … Các tên tiếng Trung này chỉ là tên có được qua dịch (như Bei = North, Nansha = South Sand, Shi = Rocky) hoặc qua phiên âm (như. Anbo ~ Amboyan, Xidu ~ Dido, Mengzi ~ Menzies …). tên tiếng Anh tương ứng mà thôi. Do đó, khá chắc chắn là tên tiếng Trung không thể có trước tên tiếng Anh, nhất là trong trường hợp sau. Như vậy, điều mà TQ cho rằng mình là nước đầu tiên đặt tên các đảo cũng không có cơ sở.
  1. TQ cho rằng họ là nước đầu tiên khai phá Trường Sa ít ra từ thời nhà Minh và bằng chứng của họ chủ yếu dựa vào 4 quyển sách (2 của TQ và 2 của Nhật).
  • Hai cuốn sách của TQ là Trung Quốc Hải chỉ Nam 1868 vàCanh lộ bạ (như đã bàn luận ở trên và ở đây BNG TQ cho rằngCanh bộ bạ có từ thời nhà Minh). Theo BNG TQ, trong hai sách này có các mô tả về một số hoạt động trên các đảo này của ngư dânTQ đến từ Hải nam.
  • Hai cuốn sách của Nhật là Bạo phong chi đảo (暴风之岛) của Okura Unosuke, năm 1918 và Tân Nam đảo khải huống (新南群岛概况) (Trường Sa được Nhật gọi là Tân Nam). Trong quyển sách đầu, tác giả ghi nhận 2 trường hợp người TQ có mặt ở đảo Song Tử và trong quyển sách thứ hai ghi nhận một trường hợp dân TQ trồng trọt trên đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa vào lúc tác giả làm khảo sát ở đó năm 1933.
Các cuốn sách này, nhất là hai cuốn của Nhật quả có cho ra những ghi nhận khách quan rằng người dân TQ với tư cách các tư nhân đã tới và thực hiện một vài hoạt động ở các đảo này, một điều mà chẳng một ai kể cả các nước đang có tranh chấp phủ nhận. Tuy nhiên,cần lưu ý rằng người dân của những nước ven biển khác chẳng hạn Chàm, Việt, Philippines, Malaysia … , hay bên ngoài như Nhật, Ấn, Á Rập, châu Âu… cũng có mặt và thực hiện các hoạt động ở đó có thể sớm hơn. Đặc biệt cũng lưu ý thêm là các hoạt động của người Việt ở đó là do Nhà nước tồ chức. Chứng cứ cho điều này có thể tìm thấy trong nhiều tài liệu cổ, kề cả của TQ. Ví dụ, trong Hải Ngoại kỉ sự (海外紀事) của nhà sư TQ Thích Đại Sán năm 1695 có mô tả về các hoạt động thường xuyên do triều đình nhà Nguyễn tổ chức ở Hoàng Sa và Trường Sa. Hoặc trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn năm 1776 cũng có các miêu tả chi tiết về tình trạng địa lí, tài nguyên ở Hoàng Sa, Trường Sa và việc khai thác hai quần đảo này của các chúa Nguyễn. Cuốn sách này cũng có ghi nhận rằng khi đi làm nhiệm vụ ở đó, dân Việt Nam cũng có gặp dân TQ trên biển. Cũng lưu ý rằng các mô tả này cũng được hậu thuẫn bằng các văn bản chính thức của triều Nguyễn, cho thấyrằng các hoạt động đó đã được hai đội Hoàng Sa, Bắc Hải của triều Nguyễn và ngư dân tiến hành liên tục. Do đó, những quyển sách BNG TQ nêu không thể nào là chứng cứ để hậu thuẫn rằng TQ là nước đầu tiên khai phá biển Đông và đặc biệt là Trường Sa. Kết luận như thế cũng không có cơ sở pháp lí vì các hoạt động này chỉ do các tư nhân TQ thực hiện chứ không phải do nhà nước TQ tổ chức.
  1. TQ cho rằng họ là nước đầu tiên thực thi quyền chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Lập luận của TQ cũng dựa vào các sách, bản đồ và thậm chí là bia mộ cổ cùng với việc xem xét, đặt tên lại các đảo như thảo luận dưới đây.
  • Nguyên đại cương vực đồ tự (元代疆域图叙), người viết chưa có cơ hội để tiếp xúc bản đồ này, tuy nhiên đã tìm được bản đồNguyên đại cương vực đồ (thiếu từ tự) trên một nguồn cá nhân[31] đăng lại bài đang bàn nhưng có chèn thêm vào các bản đồ minh hoạ. Mặc dù nói là bản đồ thời Nguyên, Nguyên đại cương vực đồ này thực ra là một bản đồ theo cách vẽ hiện đại và có tính chính xác còn hơn cả bản đồ Hỗn nhất Cương lí lịch đại quốc đô chi đồ thời Minh(nói ở điểm 1) vẽ hàng trăm năm sau đó! Có vẻ do chủ trương của chính phủ TQ cố ý để mọi thứ mập mờ nên các công dân TQ đã cố lấp đầy khoảng trống đó bằng bất cứ điều gì theo họ nghĩ hay tự tạo dựng ra cho hợp với lập luận của TQ. Việc làm này theo đúng y một cách mà chúng ta đã thấy với bản đồ Wikipedia bàn ở trên hay rất nhiều bản đồ trên trang mạng Spratly.com hoặc các bản đồ trong các bài viết có tính học thuật hơn trên các tạp chí khoa học quốc tế. BNG TQ cũng nói là Địa lí chí trong Nguyên sử cũng như Nguyên đại cương vực đồ tự bao gồm quần đảo Trường sa trong cương vực của triều Nguyên nhưng rủi thay trong Đại Nguyên nhất thống chí hay Thanh sử cảo và nhiều bản đồ của nhà Thanh rất lâu về sau này không có một chỗ nào nói tới/vẽ Trường Sa. Do đó, điều tuyên bố này của BNG TQ là đáng nghi và thậm chí nếu đúng thì các tài liệu vừa mới nêu cũng cho thấy TQ không có ý chí để đưa các đảo đang bàn vào lãnh thổ của họ một cách nhất quán và liên tục.
  • Năm bản đồ triều Thanh gồm Thiên hạ tổng dư đồ 1724 (1724 大元一统志), Thiên hạ tổng dư đồ 1755 (1755 大元一统志), Đại Thanh vạn niên nhất thống thiên hạ toàn đồ 1767 (1767 大清万年一统天下全图), Đại Thanh vạn niên nhất thống địa lượng toàn đồ 1810(1810 大清万年一统地量全图) và Đại Thanh nhất thống thiên hạ toàn đồ 1817 (1817 大清一统天下全图) mà BNG TQ cho rằng có đánh dấu Trường Sa trong đó. Chú ý rằng trong tên gọi của 4 trong 5 bản đồ này đều có chứa từ thiên hạ (天下: toàn TQ hoặc toàn thế giới). Được biết những bản đồ TQ cổ tìm được mà có từ này đều là bản đồ thế giới hoặc bản đồ khu vực châu Á với TQ là chủ thể (tức là TQ và các nước phiên thuộc hay toàn TQ [thiên hạ] theo quan niệm xưa của họ). Như thế, 4 bản đồ này có chứa HS, TS là chuyện bình thường. Tuy nhiên, trong điều kiện BNG TQ vo tròn bóp méo sự kiện/tài liệu như thảo luận cho đến giờ thì việc họ dịch từ thiên hạ trong 2 bản đồ đầu thành toàn TQ (whole China) và không dịch từ này trong 2 bản đồ sau dễ làm người đọc ngộ nhận đó là các bản đồ của riêng TQ theo cách hiểu hiện nay, nhất là khi họ lại không trưng ra các bản đồ này để mọi người có thể thấy được. Như vậy, nói rằng 5 bản đồ này có đánh dấu Trường Sa là của TQ như BNG TQ nêu là điều rất đáng nghi vấn.
  • Bia mộ của Hải Nam Vệ chỉ huy Thiêm Sự Sài thuộc triều Minh với văn bia được trích dẫn như sau: Quảng Đông tần đại hải, hải ngoại chư quốc giai nội thuộc, công thống binh vạn dư, cự hạm ngũ thập tao, tuần la hải đạo kỉ vạn lí (广东濒大海, 海外诸国皆内属, 公统兵万余, 巨舰五十艘, 巡逻海道几万里). Dòng trích dẫn này có nghĩa là: ‘Quảng Đông ở gần biển lớn, tất cả các nước ở ngoải biển [này] đều nội thuộc [nhà Minh], [Chỉ huy Sài] thống lĩnh hơn một vạn quân, (với) 50 chiến hạm to, tuần tra đường biển hàng vạn dậm’. Lời dịch trong bản tiếng Anh nêu ‘cụ thể hơn’ như sau: ‘Quảng Đông ở cạnh biển Đông lớn, tất cả các lãnh thổ ngoài biển đều nội thuộc nhà Minh. Tướng Thiêm chỉ huy hơn vạn quân và 50 chiếc thuyền to, tuần tra hàng vạn dậm trong biển Đông). Hãy bàn thêm một chút về những điểm ‘cụ thê’ đánh dấu bằng chữ in nghiêng trong lời dịch trên.
    Trước hết, dịch 
    đại hải (biển lớn) thành biển Đông lớn là điều chấp nhận được vì Quảng Đông nằm ven biển Đông.
    Thứ hai, dịch 
    hải đạo (đường trên biển) thành biển Đông cũng không có vấn đề lớn tuy hơi khái quát và có thể gây hiểu lầm (sẽ nói sau) vì các đường tuần tra trên biển thật sự nằm trong biển Đông.
    Tuy nhiên dịch 
    chư quốc ([tất cả] các nước) thành tất cả các lãnh thổ là hoàn toàn gây ra hiểu lầm vì người đọc sẽ hiểu saiquốc thành đất/đảo/bãi… thay vì nước/đất nước/quốc gia mà từquốc thật sự có nghĩa như vậy. Có vẻ BNG TQ cố ý đẽo gọt mọi thứ cho thoả với lập luận của mình (rằng tất cả các đảo, đá, bãi… ‘ngoài biển’ đều thuộc TQ). Khi kết hợp chỗ dịch ‘đẽo gọt’ này với chỗ dịch ‘khái quát’ trong phần cuối đoạn trích (‘tuần la hải đạo kỉ vạn lí’ thành ‘tuần tra hàng vạn dậm trên biển Đông’ [thay vì ‘trên hải đạo’]) người đọc có thể suy ra rằng Chỉ Huy Sài đã thực sự thực hiện việc tuần tra trên Hoàng sa, Trường Sa, Macclesfield, Scarborough, … là những đảo mà TQ đang cố dùng chính câu trích dẫn này để chứng minh chủ quyền và quyền tài phán! Cách lập luận này rõ ràng là vặn vẹo. Trừ phi có những từ khác trong câu trích chỉ rõ rằng chỉ huy Sài đã đi tới Trường Sa (rủi thay không có!) hoặc TQ có chứng cứ khác có tính thuyết phục rằng các đảo này thuộc Hải Nam vào lúc đó (cũng không có cho tới giờ này!), người ta khó có thể dùng câu văn bia trên để suy rằng chỉ huy Sài tuần tra ở các đảo đó một cách thuyết phục. Phụ trách việc bảo vệ đảo Hải Nam, chỉ huy Sài phải tuần tra tới lui vòng quanh bờ biển đảo này (dài chừng 1500km), và sau nhiều năm phục vụ số dậm (dậm ≈ 500m) đi tuần của ông có thể dễ dàng vượt con số hang vạn. Thật ra, chỉ đi chừng 7 vòng, ông ta có thể đạt tới hai vạn dậm! Rõ ràng không hợp lí khi suy luận rằng ông ta đã đi hàng vạn dặm từ Quảng Đông/Hải Nam tới các đảo xa xôi trên biển mà TQ đang cố dùng văn bia này để chứng minh rằng chúng thuộc Hải Nam. Cũng để ý rằng cho tới bây giờ chúng ta cũng chưa chú ý tới các chỗ nói quá trong câu trích này như thường thấy trong các văn bản ghi công nhằm làm vẻ vang thêm cho người đã khuất. Chẳng hạn, trong đó có các từ ‘bự sự’ như ‘đại, cự, vạn…’ nhất là cụm từ ‘hải ngoại CHƯ quốc giai nội thuộc’ rõ ràng không đúng sự thật (trừ phi theo quan niệm trật tự thế giới xưa của TQ).
  • Chính phủ TQ thành lập các cơ quan để soát xét, đặt tên lại các đảo, bãi…trong biển Đông. Hãy nghe chính các học giả TQ nói về điều này: “Vào đầu những năm 1930, hầu hết các bản đồ TQ đều sao chép lại hoặc vẽ dựa theo các bản đồ cũ trước đó. Việc khảo sát thực địa mới chưa thực hiện trong rất nhiều năm. Những bản đồ đó chứa nhiều sai sót và một số chỉ sao chép không phân tích các bản đồ do nước ngoài sản xuất. Do đó, ranh giới đại dương và đất liền TQ thể hiện thiếu nhất quán trên các bản đồ khác nhau. Điều này gây rắc rối hiển nhiên cho TQ về mặt chủ quyền trong biển Đông.”[32] Câu trích dẫn này cho thấy rằng ngay cả chỉ việc thể hiện chủ quyền trên bản đồ đối với các đảo, bãi… TQ cũng chẳng có ý chí và quan tâm để thực hiện một cách nhất quán và liên tục ở cấp nhà nước. Ngoài ra, đoạn trích trên cùng với việc BNG TQ không đưa ra được bản đồ cổ đáng tin nào khác có chứa các đảo bãi… trong biển Đông một cách rõ ràng ngoài các bản đồ có đường lưỡi bò đầy tranh cãi vẽ sau này.[33] Trong khi đó các bên tranh chấp khác, nhất là Việt Nam lại có thể đưa ra bằng chứng thuyết phục hơn. Do đó, chúng ta càng có thêm lí do để tin rằng các đảo đó chưa từng thuộc lãnh thổ của các triều đình phong kiến TQ trước đây. Vì thế, những hành động BNG TQ vừa nêu không hẵn thực sự là chứng cứ về việc thực thi chủ quyền mà có nhiều khả năng là một sự vi phạm chủ quyền của các nước khác, ví dụ như của Việt Nam vốn đã xác lập và thực thi chủ quyền liên tục, hoà bình và không bị tranh chấp ở các đảo Hoàng Sa, Trường Sa ít ra từ thế kỉ 17 như có dịp nêu ra ở trên. Ngoài ra, việc đặt tên hay đặt tên lại một nơi nào đó không nhất thiết là một hành vi thực thi chủ quyền mà có thể là do mục đích khác như nhu cầu kiến thức, giao thông… Ví dụ, người phương Tây đã đặt tên các tên đảo, bãi… hầu như khắp nơi trên thế giới trong đó có biển Đông, hoặc các nhà thiên văn đặt tên cho các vì sao, thiên thể… trong vũ trụ nhưng không vì vậy mà họ có chủ quyền đối với chúng.
  • TQ phản đối Pháp chiếm đóng 9 đảo của Trường Sa năm 1933 Thật ra TQ chỉ yêu cầu chính quyền Pháp báo cho họ biết tên và toạ độ các đảo mà Pháp chiếm đóng và sau khi nhận được trả lời thoả đáng, TQ chẳng có hành động gì hơn nữa. Điều đó có nghĩa là hành động đó chẳng thật sự là phản kháng và càng không phải là ‘phản kháng mạnh mẽ’ như BNG TQ nêu.
  • TQ tiếp nhận và dựng cột mốc chủ quyền trên các đảo vào năm 1946 sau Tuyên bố Cairo và Tuyên ngôn Potsdam. Ở đây cần lưu ý rằng khi Nhật tuyên bố chủ quyền và sau đó xâm chiếm quần đảo Trường Sa chỉ có Pháp, nhà nước bảo hộ Viêt Nam, lên tiếng phản đối. TQ không thực hiện bất kì phản đối nào và điều này có thể được hiểu là TQ không xem các đảo này thuộc về họ. Tuy nhiên, sau khi Nhật đầu hàng và rút khỏi Đông Dương, TQ vẫn cứ “tiếp thu” các đảo này dù chúng ở phía Nam vĩ tuyến 16, tức thuộc khu vực được giao cho Anh tiếp thu. Mặc dù BNG TQ cũng viện dẫn tuyên bố Cairo và tuyên ngôn Potsdam để biện hộ cho hành động sai trái này, tuy nhiên hai văn kiện này không nói Hoàng Sa và Trường Sa thuộc TQ.[34] Như vậy, việc TQ có thực hiện bất kì hành động khác như dựng các cột mốc chủ quyền trên các đảo cũng khó có thể xem là một hành động hợp pháp mà là một sự vi phạm chủ quyền nước khác và các thoả thuận quốc tế.
Một lần nữa, đối với tuyên bố này BNG TQ .chỉ cố vặn vẹo lời văn, bẽ cong sự kiện hoặc làm mọi thứ trở nên mập mờ khiến mọi người, nhất là những người không rành rẽ văn hoá và ngôn ngữ TQ bị nhầm lẫn rằng tuyên bố họ có cơ sở, còn hầu như họ chẳng có chứng cứ gì thuyết phục
Nói tóm lại, tất cả các tài liệu, sự kiện mà BNG TQ coi như là chứng cứ hậu thuẫn cho các tuyên bố của họ thật ra lại ít nhiều phản lại các tuyên bố này. Hơn nữa, hầu như với mỗi tài liệu BNG TQ đưa ra không truy cập được người ta có thể đưa ra một tài liệu tương ứng có thể tìm trên mạng hoặc ở các thư viện nước ngoài có nội dung phản lại các tuyên bố của họ. Tất cả những điều đó cho thấy việc TQ tuyên bố là họ có bằng chứng lịch sử rất nhiều và rất vững hậu thuẫn cho chủ quyền của họ ở biển Đông, nhất là quần đảo Trường Sa có vẻ chỉ là chuyện thêu dệt chứ không là sự thật. Có lẽ nắm rõ thực trạng này nên Lí Kim Minh, một chuyên gia lão làng về biển Đông, đã thành thật khi mới gần đây khuyến nghị rằng chính phủ nước ông cần bắt đầu ngay bây giờ việc tích luỹ cho đủ các chứng cứ chứng minh rằng biển Đông thuộc về TQ vì TQ không từ chối trọng tài quốc tế vô thời hạn.[35] Có lẽ TQ khó có thể làm được gì nhiều theo lời khuyên này ngoài việc tiếp tục cố ý trì hoãn đưa ra chứng cứ minh bạch, thụ động để công dân họ lan truyền bản đồ, tài liệu cổ giả, bóp méo tài liệu/sự kiện[36] như đã bàn… chờ dịp dùng ‘lí của kẻ mạnh’ như đã từng làm ở Hoàng Sa và một số đảo của Trường Sa, còn tài liệu cổ, sự kiện, ngay cả của chính TQ dường như không chiều theo tham vọng lãnh thổ của họ.
Ghi chú:

[2] Chữ Hán đuợc cấu tạo bởi 2 phần: "bộ gốc" để chỉ nghĩa và "bộ chỉ âm" để gợi ý về cách đọc. Nhiều từ miệt thị được viết với bộ  "khuyển /cẩu (chó)/" 犬 hay 犭, chẳng hạn  Địch  狄 với bộ khuyển 犭và bộ hoả 火 chỉ âm… Man  蠻  với bộ trùng (sâu bọ) 虫 và bộ  loan 䜌 chỉ âm… Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Barbarian
[3] Xem Wikipedia: Barbarians, http://en.wikipedia.org/wiki/Barbarian, Xem thêmTraditional Chinese World Order, Li Zhaojie {James Li), có trực tuyến ở:http://chinesejil.oxfordjournals.org
[4] Xem Geoff Wade, Guangdong: Archaeology and Early Texts: (Zhou-Tang), Otto Harassowitz KG Wiesbaden 2004: “…yuè is also considered as being ‘beyond China’.” (… người Việt cũng được xem là ‘bên ngoài TQ’)
[6]Ibid.
[8] Trong Nam Châu dị vật chí đá có từ tính được mô tả với chi tiết kì lạ rõ rệt:Zhanghai qitou, shui qian er duo cishi, waijiao ren cheng da chuan, jieyi tie die die zhi. Zhi ci guan, yi ci, bu de guo (涨海崎头,  水浅而多磁石,  外缴人乘大船,  皆以铁探探之 .  至此关,  以磁,  不得过: [Ở] các đầu rạng đá ngầm trong Trướng Hải, nước thì cạn nhưng có nhiều đá có từ tính. Người đi tuần bằng tàu lớn có vỏ bằng các lá sắt khi tới gần khu vực này thì bị hút không vượt qua được)
[9] Điều này cũng phù hợp với những phát hiện rằng Trướng Hải chính là biển Quỳnh Châu như nêu trong Quỳnh Châu phủ chí (琼 州府志:) (xem Phạm Hoàng Quân, Những ghi chép liên quan đến biển Đông Việt Nam trong phương chí Trung Hoa, xem  trực tuyến tại: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai22/201122_PhamHoangQuan.pdf)
[10] Phần cực Nam của lãnh thổ nhà Hán vào khoảng 18ºN hay hơn một ít (và ngay chính đảo Hải Nam cũng không thuộc nhà Hán, xem Han Dynasty map, có trực tuyến ở at: http://ngm.nationalgeographic.com/ngm/0402/feature1/images/mp_download.1.pdf) trong khi đó quần đảo Trường Sa ở dưới 12ºN.
[11] Là Trung Lang triều Ngô nên việc ‘tướng’ Khang Thái còn là một nhà hàng hải nổi tiếng như BNG TQ nêu là rất đáng ngờ, có thể vì họ muốn người đọc ấn tượng về khả năng, kinh nghiệm  đi biển của ông ta.
[12] Theo Nam Tề Thư (?) thì cả hai được Thái thú Giao Châu Lữ Đại (Lu Dai/ 呂岱) cử đi sứ các nước phía nam. Khang Thái và người đồng sự là Chu Ứng (Zhu Ying/ 朱應) theo thuyền buôn nước ngoài đến Phù Nam.
[13] Xem Charles Willemen: Buddhism’s Maritime Route to China, Belgium Royal Academy of Sciences, có trực tuyến tại http://longquanzs.org/articledetail.php?id=4814
[14] Xem Lee Yihsien, "Dao Yi Zhi Lue" (Description of the Barbarians of the Isles), Council for Cultural Affairs, có trực tuyến tại http://taiwanpedia.culture.tw/en/content?ID=3444
[15]Xem  http://en.wikipedia.org/wiki/Kangnido haywww.umac.mo/fsh/hist/.../hama2_flyer(A4).pdf (from University of Macao), xem thêm Jianming Shen, China's Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective, 2002 tại http://chinesejil.oxfordjournals.org/content/1/1/94.full.pdf,
[16] Một số triều đại TQ cổ bổ nhiệm trực tiếp Thứ sử/Thái thú tài shŏu (太守:governor)  cai quản Vietnam, xem Khai Leong Ho, Connecting & Distancing: Southeast Asia and China, Singapore Society of Asian Studies, Institute of Southeast Asian Studies, 2009,  p. 7.
[17] “Các cống vật bao gồm từ dược liệu , gia vị, nữ trang địa phương cho tới những hang hoá quý khác như  thú vật, dụng cụ kim loại, vải vóc, trái cây, gái đẹp, thợ lành nghế, bản đồ…” xem Khai Leong Ho, Connecting & Distancing: Southeast Asia and China, Singapore Society of Asian Studies, Institute of Southeast Asian Studies, 2009, p. 8.
[18] Cũng lưu ý rằng vào năm 1226, Hoàng tử Lí Long Tường (李龍祥,:이용상/ Yi Yong Sang), đại đô đốc của triều Lí (1009-1225) của Đại Việt cùng với hơn 6000 thân tộc và thuộc hạ đã trốn qua Trei62u Tiên bằng tàu vào  năm 1226 để tránh bị giết bởi triều Trần mới soán ngôi. Về sau ông trở thành tướng của Triều Tiên được gọi là Hoa Sơn tướng quân (Hwasan Sanggun).(xem http://en.wikipedia.org/wiki/Ly_Long_Tuong và xem thême Ch’oe Sang-su, Exile and Naturalization of Annamese Prince Ly, Korea Journal June 1, 1969, có trực tuyến tại: http://www.ekoreajournal.net/issue/view_pop.htm?Idx=600l). Từ các sự kiện này,  việc cho rằng  Việt Nam và Triều Tiên đã biết về địa lí của nhau và khả năng các nhà vẽ bản đồ Triều Tiên có dùng các kiến thức này là điều có thể xảy ra.
[20] Canh lộ bạ hiện nay được dịch đúng hơn là Book on Voyage Routes khi sách này được dùng làm chứng cứ về chủ quyền của TQ trong vụ dằng co ở bãi cạn Scarborough. Xem http://ph.china-embassy.org/eng/xwfb/t935925.htm.
[22] Xem Li Jinming & Li Dexia, The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note, The School of Southeast Asian Studies Xiamen University Xiamen, Fujian, China, 2002, available athttp://www.tandfonline.com/doi/pdf/10.1080/00908320390221821.
[23] Hồ Bạch Thảo, Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa)có được nói đến như là đất Trung Quốc trong Thanh Sử Cảo và Đại Thanh Nhất Thống Toàn Đồ không? Có trực tuyến  tại:http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai18/201018_HoBachThao.htm (Vietnamese).
[24] Xem Appendix 1 'China in Southern Asia, 1433 in Ying-ya sheng-lan : 'The overall survey of the ocean's shores' [1433], Cambridge [Eng.]: Published for the Hakluyt Society at the University Press, 1970.
[25] Muốn biết chi tiết hơn, xem phần 12 của bộ bản đồ này: Guǎng dōng quán tú (广东全图: bản đồ Quản Đông), có trực tuyến ở http://www.nla.gov.au/apps/cdview?pi=nla.map-lms639-s12-e
[26]Doanh nhai thắng lãm viết bởi Mã Hoan, người từng tháp tùng 3 trong 7 chuyến đi của đô đốc Triịnh Hoà tới các biển phía Tây, quyển sách này được các nhà nghiên cứu về TQ trên thế giới xem là nguồn tài liệu chính về lịch sử thám hiểm hải quân của triều Minh, lịch sử Đông Nam Á và lịch sử Ấn Độ (xemhttp://en.wikipedia.org/wiki/Ma_Huan).
[27] Như ghi chú 22.
[32] Như ghi chú 21
[33] Theo nhiều nhà nghiên cứu, chẳng hạn như Phạm Kim Hùng, bản đồ cổ TQ cho tới thời kì đầu của Trung Hoa Dân Quốc (ngoài trừ bản đồ thế giới hay bản đồ các nước phiên thuộc) có thể truy cập được đều không có vẽ “Tây Sa” và Nam Sa như TQ khẳn định. Xem Phạm Kim Hùng, Đị tìm sự thật về lịch sử hai quần đảo, có ởhttp://vietnam.vn/c1023n20110804160923687/di-tim-su-that-ve-lich-su-hai-quan-dao-o-bien-dong.htm
[34] Tuyên bố Cairo nêu “tất cả lãnh thổ Nhật đã cướp của TQ như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ trả về cho Trung Hoa Dân Quốc."http://www.ndl.go.jp/constitution/e/shiryo/01/002_46/002_46tx.html và Tuyên ngôn Potsdam chỉ nói "Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện và chủ quyền của Nhật sẽ chỉ giới hạn ở các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và những đảo nhỏ như chúng tôi quyết định" http://www.ndl.go.jp/constitution/e/etc/c06.html.
[35] Zhang Jie, et al., [US forcefully pushes internationalization of South China Sea issue, Yang Jiechi uses seven arguments to counter Hillary’s “incorrect points”].
[36] Một ví dụ nóng hổi về vặn vẹo sự kiện là, Cùng một sự kiện Quách Thủ Kính thời nhà Nguyên đi đo đạc thiên văn tại một nơi ở biển Đông ghi trong Nguyên sử, trong vụ dằng co mới đây với Philippines ở bãi cạn Scarborough BNG TQ nói rằng Quách Thủ Kính thực hiện đo đạc ở Scarborough, nhưng vào năm 1980 khi tìm cách chứng minh chủ quyền ờ Hoàng Sa họ lại nói rằng cính Quách Thủ Kính đã tới đo đạt thiên văn ở Hoàng Sa! Xem http://ph.china-embassy.org/eng/xwfb/t935925.htm và Sách trắng BNG TQ:Chủ quyền Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là không thể tranh cãi,1980.
Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số ra ngày 6/2012.