Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Tín. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bùi Tín. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

VOA - Bùi Tín và :" Chữ ký người cộng sản"

Tôi luôn muốn viết một bài viết thực sự về vấn đề này , tuy nhiên công việc và những mạch sống cứ cuốn tôi đi cho đến một ngày nhìn thấy hình ảnh 3 người Mỹ dâng cao ngọn cờ búa liềm và đọc được bài viết của Bùi TÍn , tôi quyết định mình không thể trì hoãn lâu hơn được nữa !
Quốc tử giám ngày 30/4
Bùi Tín , con chó nhỏ nhà VOA
Tôi không biết , cũng như không hiểu tại sao Bùi TÍn lại biến thành một con người đến như thế , một con người mà ở Việt Nam , ông ta là tri thức mà khi sang những quốc gia vốn tự nhận mình là tinh hoa tri thức lại trở lên bệnh hoạn và hoang tưởng đến như vậy .
Chính sự ngu ngốc và bệnh hoạn , nói theo kiểu Va ren là :"tôi đã phả đổ những thứ tôi tôn thờ và tôn thờ những thứ tôi phá đổ " tuy nhiên khốn thay là Va ren sau khi phá bỏ lí tưởng của mình đã thành Toàn quyền , thậm chí cao hơn nữa trong bộ máy thực dân để áp bức bóc lột người dân nước Nam xa xôi , còn Bùi Tín sau khi phá bỏ dân tộc này , lí tưởng nhân dân này thì trở thành một con chó không hơn không kém ,sủa thuê để kiếm thêm thu nhập . Chẳng phải bên chân ông ta luôn lảng vảng một người đàn bà Việt Nam mà ông ta "cưu mang " hay ư ? chẳng phải ông ta luôn tự hào vì vài nghìn đô la mà người ta thưởng khi sủa thuê cho họ hay ư ? Chẳng phải nhân cách của một "Nhà Báo nhớn " đã vỏn vẹn chỉ ở vài nghìn đô nhuận bút đáng khốn khổ khốn nạn .
Bùi Tín và VOA làm ra một câu chuyện giả tưởng về Việt Nam
Có lẽ bất cứ ai trong chúng ta đều biết về cuộc chiến tranh chống Mỹ , không nhiều thì ít , bản thân đó là một trang sử đẫm máu , nước mắt và hào quang của nhân loại . Nhưng khốn thay giờ nó đang bị chính một số người tạo lên hào quang đó bôi bẩn , hay đúng hơn là ăn cướp để biến thành hào quang của vàng và đô la nuôi thân , đó là Bùi Tín !!!
Có lẽ mọi người đều biết đến chiến thắng của nhân dân Việt Nam vào năm 1975 - chiến thắng 30/4 lịch sử . 
Tuy nhiên không phải ai cũng biết bố cục chiến tranh trước năm 1975 mà cụ thể là năm 1973-1975 :
1 Ai là người phá hoại hiệp định Pari trước ?
Đêm 27.01 rạng ngày 28.01.1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 15 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên và 19 cuộc hành quân cấp tiểu khu và chi khu 1. Trong đó có các cuộc hành quân quan trọng:
Hành quân Đại bàng 72/M trong vùng Quảng Trị – Thừa Thiên; Hành quân Lam Sơn 63 tại Thừa Thiên; Hành quân Quang Trung 81 tại Quảng Nam; Hành quân Quyết Thắng 27A trong vùng Quảng Tín, Quảng Ngãi; Hành quân Đăkto 15 tại Kon Tum; Hành quân Đồng Thắng 1/BĐQ trong vùng Kon Tum – Pleiku; Chiến dịch Đồng Khởi 73/1 tại Bình Định, Tuyên Đức; Hành quân Toàn Thắng TB tại Hậu Nghĩa; Hành quân Cửu Long 7/11 trong vùng Định Tường – Kiến Phong – Kiến Tường – Campuchia; Hành quân Cửu Long 44/17 trong vùng Châu Đốc – Kiên Giang 2.
Theo tổng kết hoạt động tháng 01.1973, của Bộ tổng tham mưu quân đội Sài Gòn đến ngày 31.01.1973, quân đội Sài Gòn đã thực hiện 694 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên, gồm 603 cuộc cấp tiểu đoàn, 34 cuộc cấp trung đoàn và 57 cuộc cấp sư đoàn 3
Hay :
Ngày 10.02.1973, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ban hành “công điện mang tay” mật - thượng khẩn số 5458/TTM/P345 ra lệnh cho các đơn vị cấm “phổ biến các tin tức chiến sự trên báo chí, đài phát thanh hay vô tuyến truyền hình”, trong đó nêu rõ: “Từ nay cấm không được nói rõ số lượng phi xuất, hải xuất, pháo binh yểm trợ…mà phải thay đổi hình thức giải thích đó là các hoạt động bạn có tính cách phản ứng tự vệ4.
Như vậy thì nhà báo Bùi Tín lại có thể há mồm nói mình đã ở đấy và thấy vào thời gian này , chẳng hóa ra Bùi Tín đã là Việt Gian phản bội lại đất nước ngay từ lúc đó , chẳng thế thì tại sao lão lại có thể nói sai sự thật đến như vậy ???
Tất cả những điều mà phía Ngụy quyền làm đều chỉ để tránh :
Điều 3:
Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hòa bình lâu dài và vững chắc.
Bắt đầu từ khi ngừng bắn:
a) Các lực lượng của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa Kỳ và của Việt Nam cộng hòa sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong Điều 16 sẽ quy định những thể thức.
b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban liên hợp quân sự hai bên nói trong Điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân.
c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hành động tấn công nhau và triệt để tuân theo những điều quy định sau đây:
– Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển;
– Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.5
Những người cộng sản vi phạm , vậy những người cộng sản là ai ?
Bùi Tín viện dẫn là những người cộng sản không được phép vi phạm lệnh ngừng bắn của HIệp Định Pari ,nhưng xin cho tôi hỏi là quý cẩu tặc Bùi Tín nói Cộng sản là ai : Ở đây ,Bùi Tín đã cố tình không cho người đọc biết CHÍNH NGƯỜI DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM LẬT ĐỔ NGỤY QUYỀN SÀI GÒN !
Xin mọi người nhìn rõ lá cờ :
Xem đó là cờ gì , vâng , chính nó , nó chính là lá cờ của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam Việt Nam  , vâng , chính là họ , chính họ đã chiến thắng , chẳng có cái gọi là quân cộng sản Bắc Việt hay miền bắc gì ở đây cả , chính những người cộng sản miền nam làm lên chiến thắng đó ! Thật hài hước là Bùi Tín , người luôn tự nhận mình là nhân chứng sống trong giờ phút 30/4 lịch sử lại hoàn toàn không thể hiểu được bất cứ điều gì đang được nói , có lẽ để học tiếng Anh khi xin đi tị nạn đã làm cho quý ngài Việt Gian Bùi Tín cảm thấy tiếng mẹ đẻ mơ hồ chăng ?

VNDCCH và Hoa Kì ai phá hoại hiệp định ?
Có lẽ nhiều người sẽ giãy nảy lên rằng hành động đưa vật tư , như yếu phẩm của miền Bắc vào miền Nam đã vi phạm hiệp định Pari , vậy xin cho chúng tôi hỏi 1 câu , con số đưa trong bài báo :
1963 – 1973 Hoa Kỳ bỏ ra hàng 670 tỷ đô la (theo thống kê của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ) vào cuộc chiến xa xôi, đến năm 1973 còn chi 3,2 tỷ, năm 1974 cắt xuống còn 700 triệu, rồi thiến bớt chỉ còn 300 triệu kiểu nhỏ giọt, trong khi VNCH chỉ cần vài tỷ US$ để tồn tại và cầm cự, nghĩa là chỉ yêu cầu không đầy 1% chi phí thời gian trước đó. Thật là cạn tàu, ráo máng
Là cái quái gì vậy , chẳng nhẽ là 3,2 tỉ đô la , 700 triệu đô la là số tiền mà Hoa Kì đã nợ Ngụy quyền và giờ phải trả lại trước khi không chi thêm bất cứ khoản nào cho cuộc chiến ư ? Thật hài hước và khốn cùng cho lí lẽ Bùi Tín khi cố  tình không đem ra so sánh thiệt hơn giữa 2 bên để mà đưa ra câu nói cuối cùng cho hợp lẽ trời ,lòng người . Hơn nữa cho tôi hỏi hơn 2 vạn cố vẫn Mỹ ở miền Nam là gì , chẳng nhẽ họ là những người mà Ngụy Quyền thuê để dạy cho lính Ngụy biết các cầm cờ vây chào quân đội Việt Nam giải phóng như thế nào chăng ???
Ai từ chối thiện chí của nhau ?
Điều 4 của Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và về các ban liên hợp quân sự, mặc dù Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhiều lần đề nghị nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố, cự tuyệt. Ngày 19.02.1973, Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ban hành Công văn số 437/PThT/BĐPT/KH “Tuyệt đối không có việc tự động bắt tay giữa các chỉ huy trưởng đơn vị các cấp của ta (chính quyền Sài Gòn) với địch (Quân giải phóng) để chia khu vực và để cho địch tự do di chuyển6. Ngày 26.02.1973, tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam ở Paris, chính quyền Sài Gòn vẫn âm mưu thay đổi các điều khoản của Hiệp định Paris. Theo Điều 19 của Hiệp định Paris về Việt Nam quy định: “Các bên thảo luận về việc triệu tập một hội nghị quốc tế trong vòng 30 ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các hiệp định đã ký kết7. Nhưng chính quyền Sài Gòn lại dùng Hội nghị để “đòi hỏi các cường quốc bảo đảm những gì mà chúng ta đã không nhận được ở Hội nghị Ba Lê3. Trong đó có những “đòi hỏi” đi ngược lại tinh thần Hiệp định Paris như: “Hội nghị quốc tế cần phải xác nhận và đảm bảo phương thức một dân tộc hai quốc gia Việt Nam”; “Việt Nam cộng hòa phải xác nhận không thừa nhận Mặt trận giải phóng miền Nam như một chính phủ”… “mà chỉ chấp nhận Mặt trận giải phóng miền Nam được quyền tham gia sinh hoạt chính trị tại miền Nam như một đảng phái chính trị…4. Trong diễn văn đọc tại Hội nghị, Trần Văn Lắm, Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn đã trắng trợn tuyên bố : “Tại Nam Việt Nam chỉ có một chánh phủ dân cử hợp hiến và hợp pháp duy nhất đó là chánh phủ Việt Nam cộng hòa9.
Chuyện gì đang xảy ra vậy , chẳng nhẽ tôi lại quên mất điều gì nên nhớ chăng ? Hay là quý nhà báo Bùi Tín đang trong giai đoạn hoan tưởng cùng cực của nhân cách và lối suy nghĩ dựa trên sự a dua nịnh nọt ông chủ VOA của mình để kiếm cho bằng được chút tiền dưỡng già và "bao gái " .
Ngụy quyền thể hiện sự hữu hảo của mình như thế nào ?
Để né tránh thực hiện Điều 6 của Hiệp định quy định “Việc hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác8, trước khi Hiệp định được ký kết, quân đội Mỹ tiến hành bàn giao toàn bộ căn cứ, phương tiện chiến tranh cho chính quyền Thiệu. Vì vậy, khi Hiệp định được ký kết, Điều 6 của Hiệp định trở nên “vô hiệu lực”.
Đi ngược lại với tinh thần Hiệp định Paris về giảm quân số các lực lượng vũ trang, chính quyền Sài Gòn thực hiện đôn quân, xiết chặt kỷ luật quân đội và tăng cường cả lực lượng và trang bị cho lực lượng nghĩa quân và địa phương quân của chúng. Theo báo cáo của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn là 1.086.926 quân. Đến ngày 15.02.1973, mặc dù số quân đảo ngũ là 12.595, nhưng tổng số quân của quân đội Sài Gòn vẫn còn tới 1.076.091 quân3. Trong những tháng tiếp theo của năm 1973, quân số quân đội Sài Gòn luôn giữ ở mức trên 1.900.000 quân, dù số quân đảo ngũ hằng tháng nằm trong khoảng 6.000 - 15.000 quân.
[1]. Bản tổng hợp tình hình sáng 28.01.1973 của Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 449.
[2]. Tổng kết hoạt động tháng 01.1973 của Bộ Tổng tham mưu quân lực chính quyền Sài Gòn, Phông PTTg, hồ sơ số 17778.
[5] Diễn văn của Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn Trần Văn Lắm tại Hội nghị Quốc tế ngày 27.02.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1238.
[6]Công văn số 43/PThT/BĐPT/KH ngày 19.02.1973 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn Trần Thiện Khiêm, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1229.
[7]3,4. Tài liệu nhận định Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Pari ngày 26.02.1973 của chính quyền Sài Gòn, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1238.
[8]Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1235
[9] Diễn văn của Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn Trần Văn Lắm tại Hội nghị Quốc tế ngày 27.02.1973, Phông ĐIICH, hồ sơ số 1238.
Bài xào nấu lại của Quân Đội Nhân Dân đơn giản vì viết đến nửa chừng rồi thấy của QĐND viết hay quá , đủ quá nên xào nấu lại cho đủ ý , xóa toàn bộ phần mình viết trước đó đi !
Nguyễn Linh

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Số phận kẻ phản quốc ra đi !

vừa rồi có đoạn video của Buì Kim Thành đăng lên youtube đã phần nào minh chứng cho cuộc đời của ké bán rẻ lương tâm phán bội tổ quốc.sự thật bẻ bàng của ké đi tìm miền đất hứa cuối cùng phải phải sống tha hương nơi xứ người.lượm ve chai kiếm sống(tôi không nói lượm ve chai là xấu.nghề nào có tiền mà không vi phạm pháp luật thì đều đáng trân trọng.nhưng đây là một hoàn cảnh khác
http://m.youtube.com/watch?feature=youtube_gdata_player&v=wfnzArkTXdw



chợt tôi nhớ đến bài báo BÙI TÍN tuổi xế chiều ớ pa-ri của Nguyễn Đăng An
dưới đây là nội dung chi tiết:
Tôi biết Bùi Tín từ những ngày Bùi Tín còn đương chức Phó Tổng biên tập Báo Nhân Dân phụ trách tờ Nhân Dân Chủ nhật. Thời đó, Bùi Tín đang nổi danh là một trong những cây viết có hạng của làng báo Việt Nam. Thông qua một người bạn, tôi đến gặp Bùi Tín và được Bùi Tín truyền cho một vài chiêu tác nghiệp. Tôi nhớ mãi bài học mà Bùi Tín hướng dẫn: “Đối với một nhà báo cách mạng, kiến thức thông tuệ và sự nhạy cảm là hai yếu tố đặc biệt quan trọng”.

Bùi Tín đưa dẫn chứng: Ngày giải phóng miền Nam, một nhà báo phương Tây hỏi tôi tại sân bay Tân Sơn Nhất: “Xin ông so sánh tướng Napoléon với tướng Võ Nguyên Giáp”. Tôi trả lời: “Napoléon còn có trận bại Aoxtéclích, còn Tướng Giáp không có trận bại nào, mà chỉ toàn thắng”. Đúng là một bài học có giá trị và rất đáng học tập.

Thế rồi, tháng 9/1990, Bùi Tín đi dự hội báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp rồi đào nhiệm luôn. Mới đầu Bùi Tín tung tin xin ở lại thêm một thời gian để chữa bệnh… Nhưng trên thực tế, Bùi Tín đã bí mật hợp tác với 13 hãng thông tấn, báo chí quốc tế và gần chục tờ báo phản động của người Việt ở hải ngoại để đăng tải những bài viết, tham luận chống lại dân tộc Việt Nam như: Kiến nghị của một công dân, Hoa xuyên tuyết, phỏng vấn đài BBC... Với tôi đó là thông tin bất ngờ ngoài dự kiến. Vì thế tôi đã mất khá nhiều thời gian để tìm hiểu.

Tháng 1/1997, tôi được Nhà nước cử sang làm phóng viên TTXVN tại Pari. Một trong những mong muốn của tôi là gặp Bùi Tín để trực tiếp nghe ông ta nói về lý do bỏ Tổ quốc ra đi. Đúng là trái đất tuy mênh mông nhưng vẫn còn chật lắm. Chỉ 10 tháng sau, tôi tình cờ gặp Bùi Tín. Hôm đó ngày 26/10, tôi cùng anh Hà Minh Huệ, lúc đó là Phó tổng biên tập TTXVN đi dự hội nghị các chủ bút Á - Âu lần thứ nhất ở Luých Xămbua trở về Paris.

Đến bến tàu đỗ đón khách, tôi không rõ ở ga nào, anh Hà Minh Huệ bỗng đập vào vai tôi hỏi nhỏ: “Này anh An, kia có phải là Bùi Tín không?”. Tôi ngước nhìn theo tay anh Huệ chỉ. Phía đối diện, một người đàn ông trán hói, thấp lùn đang vác một hộp các tông trên vai đi về phía chúng tôi. “Đúng là Bùi Tín rồi”, tôi trả lời anh Huệ và đứng lên: “Chào ông Bùi Tín”.

Vừa chào, tôi vừa giúp Bùi Tín để hộp các tông xuống và hỏi: “Ông có nhận ra chúng tôi không?”. Bùi Tín nhìn chúng tôi ngơ ngác: “Mình thấy quen quen nhưng thú thực không nhận ra ai cả”. Hà Minh Huệ tự giới thiệu mình, rồi giới thiệu tôi. Bùi Tín à lên một tiếng: “Mình nhớ ra rồi”.

Sau những câu xã giao bình thường, anh Huệ mở đầu một cuộc nói chuyện thẳng thắn: “ở nhà chúng tôi đã đọc những bài viết và nghe những lời trả lời phỏng vấn đài BBC của ông. Chúng tôi thấy ông chửi tuốt, kể cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, người mà chúng tôi biết ông cũng vô cùng kính yêu. ông có thể giải thích vì sao không?”.

Bùi Tín lúng túng trả lời: “Mình cũng kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh chứ”. Vừa nói, Bùi Tín vừa loay hoay lục túi, lôi ra một tờ tạp chí tiếng Anh và khoe: “Tờ tạp chí vừa mới đăng bài mình viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đây”. Anh Huệ cầm đọc một lúc rồi nhìn thẳng vào Bùi Tín nghiêm giọng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp không chỉ của nhân dân Việt Nam mà còn của nhân dân thế giới nữa. Những ai viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh với giọng điệu bôi đen như kiểu bài này của ông đều bị lên án, vì đó là sự vu khống và bịa đặt xấu xa”. Bùi Tín không phản ứng gì.

Sau khi phân tích và chứng minh những tình tiết sai trái nhằm ý đồ xấu trong bài báo, anh Huệ nói: “Đụng đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là đụng đến niềm linh thiêng của cả dân tộc Việt Nam. ông biết rõ điều đó nhưng vẫn làm. Tại sao vậy?”. Lại im lặng. Tôi hỏi: “Bài viết này, tờ tạp chí trả nhuận bút cho ông được bao nhiêu?”. Bùi Tín hồ hởi trả lời: “Họ trả mình những 2.000 USD đấy”. Anh Huệ ơi, tôi thầm nghĩ, câu trả lời của ông ta chính là ở đây rồi.

Nhìn vẻ mặt vui như bắt được vàng của Bùi Tín, tôi thấy đau nhói trong lòng. Tôi biết ông ta đã bán hết những vốn liếng mà ông ta có. Bây giờ không còn gì nữa, ông ta bán nốt cái linh thiêng cuối cùng còn lại. Giận quá, tôi nói liền một mạch: “Hồi nghe tin ông đào nhiệm, tôi không thể lý giải nổi tại sao một nhà báo nổi danh và mang ơn cách mạng như ông lại ra đi. Có người giải thích vì ông mâu thuẫn nội bộ, tham nhũng, bồ bịch với gái cùng cơ quan… Tôi nghĩ những lý do này chưa đủ để ông chọn con đường quay lưng lại với dân tộc”.

Chỉ đến khi trò chuyện với dượng tôi, nhà thơ Phan Xuân Hạt, tôi mới hiểu rõ. Dượng tôi nói: “Ai chứ Bùi Tín thì dượng biết tận chân tơ kẽ tóc. Bùi Tín là người có tham vọng chính trị cực lớn. Với óc nhạy cảm thái quá, Bùi Tín cho là phe XHCN tan rã, Liên bang Xô viết sụp đổ, nước CHND Trung Hoa rối loạn, Bùi Tín tin là Việt Nam cũng sẽ nằm trong quỹ đạo đó. Và Bùi Tín đã nhanh chóng nhảy sang phía đối lập giương cờ để chờ cơ hội quay lại làm người số 1 của Việt Nam”. Tôi thấy dượng tôi phân tích đúng quá. Có lẽ những lời nói của tôi đã điểm đúng huyệt nên Bùi Tín im lặng. ông ta ngồi yên, mắt đờ đẫn như đang trôi đi trong dòng ký ức buồn.

Lần thứ hai tôi gặp Bùi Tín tại cuộc triển lãm Mùa xuân Việt Nam do Thị trưởng Paris, Jean Tiberi, phối hợp với cộng đồng Pháp ngữ tổ chức tại Forrum des Halles – Trung tâm văn hóa Pari từ 20/3 đến 20/5/2008. Đây là hoạt động mang tính quốc gia giữa hai nhà nước. Sự xuất hiện của Bùi Tín tại cuộc triển lãm này làm tôi và các đại diện của sứ quán Việt Nam hết sức bất bình. Tôi hỏi Thị trưởng Jean Tibveri: “Thưa ngài, hình như phía Pháp có mời ông Bùi Tín đến dự cuộc triển lãm Mùa xuân Việt Nam?”.

Thị trưởng Tiberi trả lời: “Không, phía Pháp không mời. Có thể thông qua quảng cáo, giới báo chí và công chúng biết nên tự do đến tham dự thôi”. Đại diện sứ quán Việt Nam nói ngay: “ông Bùi Tín là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Chúng tôi không chấp nhận sự có mặt của ông ta ở tất cả các hoạt động mang tính quốc gia giữa Pháp và Việt Nam”. Ngay lập tức, Thị trưởng Tiberi cho người đến mời Bùi Tín rút khỏi cuộc triển lãm. Nhìn Bùi Tín thất thểu ra về, tôi tiến đến: “Ông nên biết, nhân dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận sự có mặt của ông ở những lễ hội như thế này”.

Lần thứ ba, tình cờ tôi gặp Bùi Tín trên đường phố. Tôi mời Bùi Tín vào quán cà phê. Bùi Tín kể cho tôi nghe câu chuyện ông ta mang ơn nước Pháp vì đã mổ thành công chứng đau dạ dày cho mình. Sau khi chỉ cho tôi xem vết mổ dài như chiếc đũa còn hằn rõ trên bụng, Bùi Tín nói: “Vết mổ mất nhiều nghìn USD đấy. Nếu ở nhà mình lấy đâu ra tiền để chữa”. Tôi nói: “ông nghĩ vậy là không đúng. Để tôi kể cho ông nghe câu chuyện này: ông có biết Mai Văn Hạnh chứ?”. “Biết”, Bùi Tín trả lời – “Đó là người Việt có quốc tịch Pháp bị Việt Nam tuyên bố tử hình nhưng được Pháp cứu”.

Biết Bùi Tín nói chưa đủ về Mai Văn Hạnh - một trong những tên cầm đầu nhóm phản động từ nước ngoài đột nhập vào trong nước nhằm lật đổ nhà nước Việt Nam, tôi bỏ qua để đi vào điểm chính: Có một lần tôi gặp Mai Văn Hạnh tại nhà một Việt kiều ở ngoại ô Paris. Trong cuộc gặp đó, tôi và Mai Văn Hạnh tranh luận với nhau rất quyết liệt về nhân tình thế thái. Bí thế, Mai Văn Hạnh nói: “Tôi theo chân lí được làm vua thua làm giặc. Nếu trong cuộc đấu ấy tôi thắng tôi sẽ làm vua. Nhưng kết cục tôi đã thua thì tôi phải làm giặc”.

Về điểm này, tôi khen Mai Văn Hạnh đã thẳng thắn nói rõ ý đồ “làm vua, làm giặc” của mình. Nhưng tôi còn khen Mai Văn Hạnh thêm một điểm khác nữa. Đó là khi Mai Văn Hạnh trung thực thừa nhận: “Dù sao thì tôi cũng cảm ơn Nhà nước Việt Nam đã cứu sống tôi khi tôi bị đau ruột thừa cấp tính. Bác sĩ Việt Nam giỏi lắm. Họ mổ miễn phí cho tôi nhẹ tênh mà không để lại tì vết nào trên cơ thể”.

Khỏi cần bình luận gì thêm, tôi biết Bùi Tín đã hiểu được nội dung giống và khác nhau trong 2 ca mổ dạ dày này. Nhân thể tôi nói luôn cho Bùi Tín biết nỗi đau mà Bùi Tín phải gánh chịu khi chọn con đường chống lại nhân dân mình. Tôi hỏi: “ông có biết về 3 nỗi đau mà ông đang phải chịu đựng không?”. Bùi Tín trả lời: “Tôi không biết?”. “ông có muốn nghe không?”. “Có”.

“Nỗi đau thứ nhất, ông bị nhân dân Việt Nam coi như một Trần ích Tắc phản nước hại dân. ở Việt Nam ai cũng căm ghét Bùi Tín. Ai cũng cho rằng Bùi Tín là kẻ vô ơn bạc nghĩa.

Nỗi đau thứ hai, giới trí thức ở hải ngoại cho rằng Bùi Tín được ăn rất nhiều lộc của Việt Nam mà trở cờ như vậy là “thất đức, khó tin”. Trong một lần cùng tiến sĩ Trần Ngọc Vương đến thăm họa sĩ Lê Bá Đảng, Đặng Tiến, nhà phê bình nổi tiếng ở hải ngoại, đã nhận xét: “Bùi Tín thuộc loại ăn cháo đái bát không đáng chơi”. Ngay đến Võ Văn ái, tờ Quê mẹ và Nguyễn Gia Kiểng tờ Thông luận rất phản động cũng viết bài miệt thị coi Bùi Tín là “phần tử bất hảo không đáng tin”.

Nỗi đau thứ ba, nhiều Việt kiều yêu nước không thể tin được hành động chạy trốn của Bùi Tín nên đoán già đoán non rằng Bùi Tín giả danh đào nhiệm để hoạt động gián điệp. Chính vì lẽ đó có người đã cho Bùi Tín vay khá nhiều tiền mà mãi đến nay vẫn không dám đòi”.

Nghe tôi nói, Bùi Tín ngồi bất động trên chiếc ghế bọc vải trắng của nhà hàng tầm bậc trung ở thủ đô Paris hoa lệ. Trong ánh đèn nhập nhòa, mặt Bùi Tín trắng bệch không còn một giọt máu. Đúng là Bùi Tín đang ngấm vị đắng chát của ba nỗi đau cay đắng này. Tôi tiếp tục: “Bùi Tín nên biết rằng, Bùi Tín giống như quả chanh có ít nước đã bị người ta vắt sạch. Nay quả chanh vô giá trị, Bùi Tín đã bị người ta vứt vào sọt rác rồi. Bùi Tín có nhận ra điều ấy không?”. Biết trả lời thế nào được. Đúng là tôi đã hỏi khó Bùi Tín. Tôi sẽ không hỏi gì nữa. Tôi ngồi yên để Bùi Tín nhấp nháp ly cà phê gần như vẫn còn nguyên trên bàn.

Lần thứ tư, trước khi về nước, tôi gọi điện mời Bùi Tín ăn bữa cơm chia tay. Lần này tôi hỏi: “ông Bùi Tín có nhớ nước không?”. Như chạm đúng vào mạch cảm xúc thiêng liêng, đang ăn, Bùi Tín bỗng buông đũa, chống tay lên bàn, rơm rớm nước mắt: “Có, mình nhớ nước lắm. Có đêm mình mơ được về nước. Sướng quá mình vất dép đi chân trần chạy dọc theo bờ Hồ, thỉnh thoảng dừng lại đưa tay với những rặng liễu đang rủ bóng xuống mặt hồ xanh biếc. Có lần mình mơ được chạy mấy vòng quanh Hồ Tây lộng gió. ôi những giấc mơ đó sao mà hạnh phúc…”. Tôi hỏi: “Thế ông Bùi Tín có muốn về nước không?”. Bùi Tín nhìn tôi: “An nói đùa đấy chứ”. Tôi khẳng định: “Tôi nói thật 100%”. Bùi Tín thở dài: “Tôi không tin. Tôi nghĩ là họ sẽ không cho tôi về”. Tôi quả quyết: “Với tư cách là một công dân của nước Việt Nam, tôi xin bảo lãnh cho ông về nước”. Bùi Tín hoang mang: “An nói cụ thể hơn xem nào”. “Tất nhiên là phải có điều kiện”, tôi tiếp tục: “Bùi Tín ra đi như thế nào thì hãy trở về như thế”. “Nghĩa là làm sao?”. Bùi Tín hỏi. Tôi trả lời: “Nghĩa là khi đi Bùi Tín lên đài báo chửi bới dân tộc, thì bây giờ Bùi Tín lại lên đài báo tạ lỗi xin đồng bào tha cho những lỗi lầm nghiêm trọng mà Bùi Tín đã mắc phải trong nhiều năm qua. Với bản chất nhân ái cao cả, tôi tin nhân dân Việt Nam sẽ cho Bùi Tín cơ hội được trở về”. Nghe tôi nói, Bùi Tín ngồi lặng im một lát rồi mới tự thú: “Mình không làm được nữa”.

Bùi Tín sinh năm 1927, tính đến nay đã 85 tuổi. Bùi Tín luôn đau ốm, sống đơn độc không bằng hữu và đã sạch vốn bán chữ kiếm tiền. Với đồng lương thất nghiệp nhà nước Pháp cho, Bùi Tín chỉ đủ trả tiền thuê nhà. Bùi Tín phải chạy vạy kiếm tiền nuôi thân và nuôi cả cô Hà, một thợ cắt tóc Hà Nội được Bùi Tín đưa sang cưu mang che chở. Bùi Tín phải sống như thế nào đây ở những năm tháng cuối đời? Tôi biết Bùi Tín đã hiểu rất rõ cái giá cay đắng mà Bùi Tín phải trả cho tham vọng chính trị thái quá một thời của mình.

Biết là sẽ khó làm nhưng còn cách nào tốt hơn con đường trở về với cội nguồn - nơi có truyền thống chỉ “đánh kẻ chạy đi chứ không bao giờ đánh người quay lại”. Chính vì lẽ đó tôi vẫn muốn Bùi Tín hãy dũng cảm hối cải, lên lại đài báo thú tội trước nhân dân, ít ra cũng là để “lập công chuộc tội”

Nguyễn Đăng An

Nguồn Linh Nguyeẽn face