Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu lưu giữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu lưu giữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Nếu Trung Quốc đòi Biển Đông, Mông Cổ có thể đòi cả Trung Quốc

Người Mông Cổ có thể đòi hỏi chủ quyền với toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc hiện nay bởi cha ông họ đã từng làm chủ Hoa lục thời kỳ nhà Nguyên, thế kỷ 13.
Zachary Keck, biên tập viên tạp chí The Diplomat ngày 19/2 nhận xét, cái gọi là nguyên tắc của đường 9 đoạn (đường lưỡi bò, đường chữ U) mà Trung Quốc đưa ra ở Biển Đông (trên quan điểm chủ quyền lịch sử) đe dọa sự ổn định không chỉ ở Biển Đông hay châu Á mà đe dọa trật tự toàn cầu khiến Mỹ đã phải công khai phản đối đường 9 đoạn.
Trái ngược với những gì Trung Quốc tuyên bố, Mỹ thể hiện rõ quan điểm của mình sẽ làm giảm nguy cơ xảy ra đối đầu, chiến tranh giữa Washington và Bắc Kinh trên Biển Đông. 
Từ địa vị vững chắc của Mỹ tại Thái Bình Dương hiện nay, có vẻ Washington rõ ràng sẽ không chấp nhận yêu sách của Bắc Kinh đòi "chủ quyền" gần như toàn bộ Biển Đông, ít nhất là trong bối cảnh hiện tại.
Tuy nhiên, một số người theo đuổi tham vọng thực thi tuyên bố chủ quyền với Biển Đông ở Bắc Kinh có thể có những nhận định khác nhau về vấn đề này. 
Trường hợp Washington đã khoanh tay đứng nhìn quân đội Trung Quốc đẩy Philippines ra khỏi bãi cạn Scarborough năm 2012 và tiếp tục nhăm nhe tìm cách đánh bật Manila ra khỏi bãi Cỏ Mây (nằm trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, đối tượng Trung Quốc, Đài Loan và Philippines cũng nhảy vào tranh chấp - PV) khiến những người này tin rằng Hoa Kỳ sẽ không dám "mạo hiểm đương đầu" với Trung Quốc ở Biển Đông.
Nếu Trung Quốc phớt lờ các cảnh báo của Mỹ, điều này có khả năng tạo cho Bắc Kinh một khoảng tạm dừng lớn hơn để thúc đẩy tuyên bố của họ ở Biển Đông, và nó cũng sẽ đặt Mỹ vào tình thế khó khăn hơn. 
Vì vậy chính quyền Obama đã đưa các biện pháp thích hợp giảm thiểu nguy cơ này bằng cách tuyên bố tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á. 
Khi Mỹ thể hiện quan điểm cứng rắn của mình, Washington sẽ tránh bị rơi vào khả năng va chạm với Trung Quốc.
Quan trọng hơn, việc Mỹ thách thức yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông bởi vì nó gây bất ổn không chỉ cho khu vực châu Á. Tuyên bố của Trung Quốc đòi "chủ quyền" với 90% diện tích Biển Đông bắt nguồn từ quan điểm của nhà cầm quyền Trung Quốc về "chủ quyền lịch sử".
Năm 2008, một nhà ngoại giao Trung Quốc nói với các quan chức Mỹ rằng đường 9 đoạn Trung Quốc (tự vẽ ra) ở Biển Đông "cho thấy chủ quyền của Trung Quốc với các đảo trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có từ thời cổ đại"?!
Nếu cứ để Trung Quốc tự thiết lập "nguyên tắc" một mình một kiểu như vậy sẽ là một thảm họa với vô số xung đột chủ quyền bởi sự dịch chuyển biên giới giữa các quốc gia trong lịch sử.
Lý luận theo kiểu Trung Quốc, đế chế Ottoman đã kiểm soát phần lớn châu Âu ở những thời điểm khác nhau thì Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay có quyền đòi "chủ quyền" với toàn bộ châu lục này. 
Tương tự, Pháp và Đức từng có tuyên bố chủ quyền hầu hết Tây Âu và Đông Âu thời kỳ Napoleon và Đức quốc xã, Nga có quyền yêu cầu "chủ quyền" ở các nước Đông Âu do biên giới Liên Xô để lại....
Trớ trêu hơn nữa, một số quốc gia có thể áp dụng "nguyên tắc đường 9 đoạn" mà Trung Quốc đang bám lấy để yêu sách chủ quyền với chính một bộ phận hay toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc.
Nhiều vùng lãnh thổ của Trung Quốc từng là thuộc địa của Đức, Pháp và Anh thời thế kỷ 19, 20 thì họ cũng có thể yêu sách "chủ quyền" với những vùng đất này như những gì Trung Quốc đã làm ở Biển Đông. 
Chính phủ ông Shinzo Abe có thể yêu sách chủ quyền với một vùng lãnh thổ rộng lớn của Trung Quốc vì Hoàng gia Nhật đã từng kiểm soát chúng một thời.
Thậm chí người Mông Cổ có thể đòi hỏi chủ quyền với toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc hiện nay bởi cha ông họ đã từng làm chủ Hoa lục thời kỳ nhà Nguyên, thế kỷ 13.
Tất cả điều này nói lên rằng nguyên tắc đằng sau cái gọi là đường 9 đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông gây nguy hiểm cho hòa bình và ổn định trật tự toàn cầu. Cứ theo cái cách Bắc Kinh giải thích thì ngay cả Mỹ, Trung Quốc và các nước khác trên thế giới sẽ trở nên sẽ trở nên hỗn loạn.

Theo GIÁO DỤC VIỆT NAM

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

SỰ THẬT VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN -TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM



Trong xã hội mà quyền con người được khẳng định và Nhà nước luôn tạo điều kiện để bảo đảm sự phát triển của quyền con người, thì tự do báo chí và tự do ngôn luận là các yếu tố quan trọng góp phần vào sự phát triển chung. Ðó là căn nguyên lý giải tại sao các năm qua ở Việt Nam, tự do báo chí và tự do ngôn luận lại có những bước tiến không thể phủ nhận...
Theo số liệu của cơ quan chức năng, đến tháng 3-2013, cả nước Việt Nam có 812 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm; gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ; một hãng thông tấn, 67 đài phát thanh, truyền hình, 101 kênh truyền hình, 78 kênh phát thanh; 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội, 1.174 trang thông tin điện tử được cấp phép hoạt động (năm 2011 là 46 báo điện tử, 287 trang thông tin điện tử). Hiện, Ðài Tiếng nói Việt Nam phủ sóng 99,5% diện tích lãnh thổ, qua vệ tinh tới nhiều nước trên thế giới. Hiện hơn 90% hộ gia đình Việt Nam đã sử dụng sóng truyền hình của Ðài Truyền hình Việt Nam. Qua nhiều hình thức cung cấp, người dân Việt Nam được tiếp xúc với 75 kênh truyền hình nước ngoài, trong đó có các kênh nổi tiếng như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg,... 20 cơ quan báo chí nước ngoài đã có phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức, bài vở của các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới như AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times,...
Về xuất bản, ở Việt Nam có 64 nhà xuất bản. Chỉ tính riêng trong năm 2012, ngành này đã xuất bản 28.009 xuất bản phẩm có nội dung phong phú và đa dạng, với khoảng 301.717.000 bản. Từ việc xác định vai trò của internet, Nhà nước Việt Nam có chính sách, biện pháp cụ thể để khuyến khích sử dụng internet phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm các quyền cơ bản của nhân dân. Ðó là cơ sở để năm 2012, về số lượng người sử dụng internet, Tổ chức Liên minh viễn thông quốc tế (ITU) xếp Việt Nam đứng thứ ba tại Ðông - Nam Á, thứ 8 tại châu Á. Theo số liệu khảo sát của WeAreSocial - tổ chức nghiên cứu độc lập về truyền thông xã hội toàn cầu, tới tháng 12-2012 số người sử dụng internet ở Việt Nam là 30,8 triệu, chiếm 34% dân số (mức trung bình của thế giới là 33%). Tháng 10-2009, dịch vụ truy cập internet qua mạng 3G có mặt tại Việt Nam, lập tức góp phần tạo nên sự phát triển vượt bậc của internet băng thông rộng, sau ba năm (tính đến tháng 7-2012), số lượng sử dụng đạt con số 16 triệu người (chiếm khoảng 18% dân số).
Việt Nam nổi bật trên bản đồ Facebook thế giới của Mark Zuckerberg 2
Riêng với blog, trên cả nước hiện có gần 3 triệu người có blog cá nhân. Ða số blogger sử dụng blog làm nơi bày tỏ suy nghĩ, trao đổi tâm tình, kiến thức; thông qua blog đã hình thành nhiều nhóm sinh viên, thanh niên rất tích cực hoạt động xã hội như quyên góp giúp đỡ trẻ em nghèo, giúp người không nơi nương tựa,... Hầu như các cơ sở công cộng ở đô thị như nhà hàng, khách sạn, quán giải khát, nhà chờ sân bay,... đều có Wifi miễn phí. Tại các địa phương có ngành du lịch phát triển như Huế, Ðà Nẵng, Hội An,... kế hoạch phủ sóng Wifi đã và đang được triển khai là bằng chứng cho thấy sự quan tâm của chính quyền địa phương với sự phát triển internet.

Thực tế Việt Nam cho thấy, sự phát triển của hệ thống truyền thông không chỉ để giúp nhân dân thỏa mãn nhu cầu văn hóa, mở mang và trau dồi tri thức, mà trở thành diễn đàn với nhiều hình thức phong phú, sinh động để các tổ chức xã hội, mọi người dân có tiếng nói lành mạnh, đóng góp ý kiến, thậm chí phản biện, đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước, và của các cấp chính quyền. Trong nhiều trường hợp, hệ thống truyền thông thật sự là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, bảo vệ quyền của người dân, nhất là kiểm tra, giám sát thực thi các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhiều cơ quan báo chí ở Việt Nam chủ động, tích cực phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng, phê phán hành vi vi phạm quyền công dân cùng những biểu hiện tiêu cực khác. Gần đây, việc những cuộc tranh luận, chất vấn, phản biện tại Quốc hội được truyền hình trực tiếp, việc Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố công khai để toàn dân đóng góp ý kiến, việc các cuộc tọa đàm, tranh luận, cung cấp thông tin nhiều chiều về các vấn đề chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước trên phương tiện thông tin đại chúng,... giúp người dân tiếp cận với các vấn đề quan trọng, từ đó đưa ra ý kiến có trách nhiệm. Vì thế hệ thống truyền thông ở Việt Nam đã trở thành một phương tiện quan trọng trong bảo vệ và phát huy các giá trị của nhân quyền.
Ðể bảo đảm cho hệ thống truyền thông theo kịp sự phát triển, bên cạnh các quy định cụ thể trong Hiến pháp, pháp luật, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan thông tin đại chúng làm tròn chức năng, nhiệm vụ, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng được phát huy cao hơn. Biểu hiện cụ thể cho quan tâm này là Việt Nam đã có Luật Báo chí và tháng 11-2012, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua Luật Xuất bản sửa đổi, thể hiện sự nhất quán trong tôn trọng quyền phổ biến tác phẩm của cá nhân, phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Trên thế giới ngày nay, tự do ngôn luận và tự do báo chí là các yếu tố hết sức quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là biểu hiện trực tiếp của quan niệm, chính sách nhân quyền ở quốc gia đó. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc đều khẳng định các quyền cơ bản này, và Nhà nước Việt Nam đã luôn nghiêm túc tuân thủ các cam kết. Tuy nhiên, bất chấp các thành tựu nhân quyền của Việt Nam, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí thường viện dẫn từ Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị để bịa đặt Việt Nam "không có tự do ngôn luận, tự do báo chí", vu cáo Nhà nước Việt Nam "vi phạm tự do ngôn luận, tự do báo chí". Khi viện dẫn, họ đã cố tình tảng lờ việc Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền khẳng định: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và các quyền khác: "phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng đối với các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ". Họ cũng đã tảng lờ việc trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, để bảo đảm "Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa", về tự do ngôn luận, Công ước cho rằng thực hiện quyền này "kèm theo những nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định". Wikipedia - nơi có thể tự do trình bày quan điểm, trong mục từ Tự do ngôn luận cũng viết: "Các hạn chế đối với tự do ngôn luận có thể theo "nguyên tắc gây hại" hoặc "nguyên tắc xúc phạm", thí dụ trong trường hợp khiêu dâm hoặc các nội dung thù ghét (nhằm hạ thấp một cá nhân hay nhóm người vì chủng tộc, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tôn giáo, định hướng tình dục, tật nguyền, khả năng ngôn ngữ, hệ tư tưởng, địa vị xã hội, nghề nghiệp, ngoại hình, khả năng tư duy hay bất cứ dị biệt nào...). Các hạn chế đối với tự do ngôn luận có thể được thực thi bằng luật pháp hoặc/và sự lên án của xã hội".

Trên thực tế, không chỉ ở Việt Nam mới có một số chế tài đối với hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để vi phạm pháp luật, mà ở Hoa Kỳ, CHLB Ðức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore,... đều có luật và điều khoản luật xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những kẻ thường ca ngợi tự do báo chí của cái gọi là "Việt Nam cộng hòa" cần phải biết rằng, Ðiều 16 Hiến pháp 1956 của chế độ này viết: "Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể cộng hòa", Ðiều 12 Hiến pháp 1967 của chế độ này cũng viết: "Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục". Và không thể biện minh cho tự do ngôn luận, tự do báo chí của chế độ đó khi chỉ trong một tháng đầu năm 1975 đã "bỏ tù 19 nhà báo và đóng cửa năm báo đối lập"; và 30 năm sau về cái chết của phóng viên AFP, Nguyễn Ngọc Bích - Tổng Giám đốc cuối cùng của cái gọi là "Việt tấn xã" - VTX, đã viết: "Tôi cũng sống những giờ phút thật căng khi ông Phạm Kim Quy, đại tá cảnh sát, bắn chết ký giả Agence France - Presse Paul Leandri rồi nhất quyết đòi VTX phải đưa ra cách giải thích của bên Cảnh sát quốc gia"!
Hiện nay, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí ở Việt Nam còn gặp khó khăn khi nhận thức về pháp luật của toàn dân chưa trở thành ý thức thường trực, tự giác, hệ thống truyền thông tuy phát triển song còn thiếu chuyên nghiệp, nhất là các thế lực thù địch, một số cá nhân thiếu thiện chí lợi dụng truyền thông để tác động xấu tới xã hội, công chúng, lợi dụng việc chính quyền thực thi pháp luật để vu cáo Nhà nước Việt Nam,... Nhưng chúng ta tin tưởng rằng, từ quan điểm, chính sách đúng đắn của Nhà nước Việt Nam về tự do ngôn luận và tự do báo chí, cả trước mắt và lâu dài, mọi người dân Việt Nam sẽ được hưởng các quyền này ngày càng đầy đủ hơn, được tạo các điều kiện để phát triển toàn diện và hài hòa, từ đó có những đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của xã hội.
VŨ HỢP LÂN

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

"JAMAIS - KHÔNG BAO GIỜ!" NO CHINA !


CHIẾN THẮNG 30-4 VÀ BÀI HỌC CHO TRUNG QUỐC 

- Nhìn lại chiến thắng vẻ vang 30-04-1975 của dân tộc, với ý chí thống nhất hai miền Nam-Bắc mãnh liệt của hàng triệu trái tim yêu nước quật cường đã đập tan âm mưu xâm lược của các thế lực thù địch với tên đầu xỏ là Đế quốc Mỹ, và trong đó không thể không nhắc đến những kẻ “chờ thời”, mưu mô, xảo quyệt đó là bọn bành trướng Bắc Kinh.

- Trong một cuộc phỏng vấn của phóng viên Pháp với Bác Hồ năm 1964, Bác đã thể hiện rất rõ quan điểm của mình, đối với bọn “chủ nghĩa cơ hội” Bắc Kinh:

PV: “Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Liên Xô và Trung Quốc?

- Không! Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn, và chúng rất quý giá với chúng tôi.

PV: Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc? (thành vệ tinh của Trung Quốc)

PV: Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

- JAMAIS! Không bao giờ”
- Ngay cả những nhân vật ở bên kia chiến tuyến, cũng “đi guốc trong bụng” bẽ lũ phản động Bắc Kinh:

Dương Văn Minh: “Tôi cảm ơn thiện chí của các ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc!”

ÂM MƯU CỦA TRUNG QUỐC TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Từ sau cuộc chiến Triều Tiên, giới chóp bu Trung Quốc quá hài lòng với kết cục “tốt đẹp” mà họ đã tạo dựng cho đất nước này, với những gì đẫm máu và khốc liệt nhất mà dân Triều Tiên chịu đựng, và sau đó “kịch bản” này lại được những “đạo diễn” trong bộ sậu Trung Quốc tái hiện lại ở Việt Nam. Nhưng khác với Triều Tiên dân tộc Việt Nam quá hiểu rõ bản chất thâm độc của chúng!

Cần phải biết rõ rằng, từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhân dân Việt Nam có khả năng hoàn toàn giải phóng đất nước. Trong một lần tranh luận quyết liệt với Chu Ân Lai, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chia sẻ:

“Đồng chí có biết, năm 1954, khi cảm nhận được rằng, Việt Nam đã bị ép ký hiệp định Genève, tôi đã khóc ròng trên đường từ miền Bắc quay trở lại miền Nam vì biết rất rõ rằng, rồi đây máu của đồng bào tôi sẽ đổ hàng chục năm trời? Và sau đó thì các đồng chí đã thấy đó, sau hai năm theo như thỏa thuận là “hoà bình sẽ được lập lại”, máu của đồng bào tôi đã đổ cho tới bây giờ…”.
Ngay từ cái hiệp định “oan nghiệt” đối với dân tộc Việt Nam ấy. Lập trường của Trung Quốc đã khác hẳn lập trường của Việt Nam, nhưng lại “theo chiều” với lập trường của Pháp. Đến đây thì rõ rành rành là họ đã hoàn toàn phản bội chúng ta.

Mao Trạch Động và Đặng Tiểu Bình đã thay nhau tung đòn mù gây sức ép để Việt Nam chấp nhận “kịch bản trường kỳ mai phục” mà họ đã “dày công” gài sẵn, với những lý lẽ ma mị. Tháng 11 năm 1956, chủ tịch Mao Trạch Đông nói với những người lãnh đạo Việt Nam:

“Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”.

Tháng 7 năm 1955, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình doạ:

“Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”.

Tháng 7 năm 1957, chủ tịch Mao Trạch Đông lại nói:

“Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt.”

Nhưng chỉ với những cái lý lẽ trẻ con mà không dám nói là “ngu xuẩn” ấy thì họ cứ việc giữ lấy mà nghiên cứu trong quá trình “chờ sung rụng”. Và dân tộc ta thì quyết tâm dành độc lập theo ý chí thống nhất của riêng mình.

KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, phần nào đó Trung Quốc đã vỡ mộng với cái “lưới rách” đã dàn sẵng, chứ không hoàn toàn quá đắc chí như trước, khi nhận thấy hậu phương Miền Bắc có những hành động quyết luyệt đáp trả Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, chứ không ngồi chờ “kịch bản” từ Phương Bắc gởi sang.

Nhận thấy gió đã không thổi theo chiều, chúng “vội vã” phá hoại phong trào đấu tranh vũ trang của đồng bào Miền Nam. Tháng 5 năm 1960, hội đàm với phía Việt Nam, họ nói về miền Nam Việt Nam như sau:

“ Không nên nói đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự là chính…Đấu tranh chính trị hay đấu tranh quân sự không phải là cướp chính quyền ngay, mà cuộc đấu tranh vẫn là trường kỳ. ..Dù Diệm có đổ cũng không thể thống nhất ngay được, vì đế quốc mỹ không chịu để như vậy đâu…”

Quả thật nực cười với những quan điểm chính trị “biến thái”, “nửa vời” mà chúng moi ra trong cái hệ tư tưởng ô hợp sặc mùi thủ đoạn, để đem đi dạy cho một dân tộc quá ư thấu hiểu về hai chữ Độc Lập.

Hành động phản bội và bộ mặt phản động của chúng lại càng lộ rõ hơn, khi chúng đã ngồi chung mâm với Mỹ. Chúng đã không ngại ngần bật đèn xanh cho Mỹ trực tiếp xâm lược Việt Nam. Tháng 1 năm 1965, qua nhà báo Mỹ Étga Xnâu , chủ tịch Mao Trạch Đông nhắn Oasinhtơn:

“Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu. Phải chăng như vậy là không rõ ràng? Người Trung Quốc rất bận về công việc nội bộ của mình. Đánh nhau ngoài biên giới nước mình là phạm tội ác. Tại sao người Trung Quốc phải làm như vậy? Người Nam Việt Nam có thể đương đầu với tình hình.”[1]
Câu nói của thủ tướng Chu Ân Lai với tổng thống Ai Cập A. Nátxe ngày 23 tháng 6 năm 1965, do ông Môhamét Hátxenen Hâycan, người bạn thân thiết và cố vấn riêng của tổng thống A. Nátxe kể lại là một bằng chứng hùng hồn:

“Mỹ càng đưa nhiều quân vào Việt Nam thì chúng tôi càng vui lòng vì chúng tôi biết rằng chúng tôi nắm chúng trong tay, chúng tôi có thể lấy máu chúng. Nếu Ngài muốn giúp đỡ người Việt Nam thì cần khuyến khích Mỹ ném càng nhiều lính Mỹ vào Việt Nam càng tốt”[2]

Trung Quốc không từ mọi thủ đoạn, mà còn tích cực giúp Mỹ phá hoại luôn cả mọi hành động thống nhất ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Khi trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 khóa 8 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tháng 8 năm 1956. Nhưng những người cầm quyền Trung Quốc lại muốn thành lập một cái gọi là Mặt trận nhân dân thế giới do họ khống chế hòng gây rối phong trào phản chiến nhân rộng khắp thế giới của ta:

“Cần phải thành lập Mặt trận thống nhất thế giới rộng rãi nhất chống đế quốc Mỹ và tay sai…Tất nhiên Mặt trận đó không thể bao gồm họ (Liên Xô) được…”

Điệu đặc biệt khi cuộc kháng chiến của dân tộc ta lên đến cao điểm, thì Trung Quốc chẳng ngại chơi bài ngửa, với những hành động giả giả, thật thật, hòng đạt được mưu đồ của mình.

Trong cuộc đàm phán với phía Việt Nam tháng 4 năm 1968, phía Trung Quốc thừa nhận rằng Tuyên bố ngày 28 tháng 1 năm 1967 của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà về việc đàm phán với Mỹ đã gây ảnh hưởng tốt: “Ngay đồng minh của Mỹ, cả Đờ Gôn cũng đòi chấm dứt ném bom không điều kiện”. Nhưng họ vẫn cho rằng:

“Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời cơ và trên tư thế cao, ta đã nhân nhượng một cách vội vã”.

Trắng trợn hơn, ngày 9 tháng 10 năm 1968, một nhà lãnh đạo Trung Quốc đã gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam tại Bắc Kinh và yêu cầu báo cáo với lãnh đạo Việt Nam rằng họ coi việc Mỹ chấm dứt ném bom miền bắc Việt Nam là “sự thoả hiệp của Việt Nam và Mỹ”, “là một thất bại lớn, tổn thất lớn đối với nhân dân Việt Nam giống như cuộc đàm phán ký Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954 là một sai lầm”; họ đề nghị phía Việt Nam “nên để cho Mỹ bắn phá trở lại khắp miền bắc, làm như vậy là để Mỹ phân tán mục tiêu oanh tạc, đồng thời cũng chia sẻ bớt khó khăn cho miền Nam”.

Và khi không đạt được ý muốn, chúng đã dùng chiêu bài mặc cả. Trong cuộc gặp Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Việt Nam nói trên, phía Trung Quốc còn trắng trợn vu khống Việt Nam đàm phán với Mỹ là do “nghe lời của Liên Xô” và yêu cầu phía Việt Nam lựa chọn:

“Hoặc là muốn đánh thắng Mỹ thì phải cắt quan hệ với Liên Xô, hoặc là muốn thoả hiệp với Mỹ, dùng viện trợ của Trung Quốc đánh Mỹ để đạt mong muốn đàm phán với Mỹ thì sự viện trợ của Trung Quốc sẽ mất hết ý nghĩa của nó”.

Ngày 17 tháng 10 năm 1968, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Nghị gặp đại diện Việt Nam thông báo tuyên bố của những người lãnh đạo Trung Quốc về cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ:

“Lần này nếu các đồng chí chấp nhận bốn bên đàm phán tức là giúp cho Giônxơn và Hămphơrây đoạt được thắng lợi trong bầu cử, để cho nhân dân miền Nam Việt Nam vẫn ở dưới sự đô hộ của đế quốc Mỹ và bù nhìn, không được giải phóng, làm cho nhân dân miền Nam Việt Nam còn có khả năng bị tổn thất lớn hơn…Như vậy giữa hai Đảng và hai nước chúng ta còn cần nói chuyện gì nữa?”.

Đe doạ cắt quan hệ giữa hai Đảng là một thủ đoạn trắng trợn, một sức ép lớn nhất của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam.

Đi đôi với việc đe doạ bằng lời lẽ thô bạo là việc đe doạ bằng hành động thực sự. Năm 1968, khi bàn vấn đề viện trợ cho Việt Nam trong năm 1969, những người cầm quyền Bắc Kinh đã giảm kim ngạch viện trợ hơn 20% so với kim ngạch viện trợ năm 1968. Hơn thế nữa, tháng 8 năm 1969 họ trắng trợn nói:

“Thế Việt Nam đánh hay hoà để Trung Quốc tính việc viện trợ?”

Và câu trả lời thẳng từ phía ta dành cho họ:

“Sự nhiệt tình của một nước xã hội chủ nghĩa đói với một nước xã hội chủ nghĩa khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2 hay 3 triệu người…Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”

CHIẾN THẮNG 30-04-1975

Nhận thấy đã không còn quyền định đoạt trong ván bài. Họ đã vét chút vốn liếng còn lại của cái dự án bị phá sản kia, khi “lén lút” đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, rồi giăng “thiên la địa võng” ở Cam-bốt mà chờ thời.

Và đến tận những ngày cuối cùng của cái Chính quyền bù nhịn mà Mỹ dựng nên kia, chúng còn âm mưu cấu kết với Việt Nam Cộng Hòa để đánh lén ta. Theo hồi ký các tướng tá của quân đội Sài Gòn như Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, và cựu dân biểu Lý Quý Chung, thì sáng ngày 28/4, tướng tình báo Pháp Francois Vanussème đã tới gặp Dương Văn Minh và đề nghị kêu gọi Trung Quốc đem quân can thiệp để cứu quân đội Sài Gòn đang trong cơn nguy kịch. Một nhân viên ngoại giao Trung Quốc đề nghị quân đội Sài Gòn hãy cố thủ, án ngữ Vùng 4 Chiến thuật, hứa hẹn Trung Quốc sẽ đem quân đánh vào biên giới miền Bắc Việt Nam để giải vây. Tướng Minh vốn đã được Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam thông qua em trai là Dương Thanh Nhựt (bí danh Mười Ty, đại tá QĐNDVN) và gia đình đã thuyết phục từ trước, đã từ khước và nói: "Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.[3]
Và cuối cùng đến Henry Kissinger cũng phải nhận định rằng "Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975, chính là mối đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ”.

Nguồn trích dẫn:

[1] Ét-ga Xnâu: "Cuộc cách mạng lâu dài" Nhà xuất bản Hớt xin xơn, Lân đơn, 1973, tr. 216

[2] Mô-ha-mét Hát-xe-nen Hây-can: "Những tài liệu từ Cai-rô" Nhà xuất bản Phia-ma-ri-ông, Paris, 1972, tr. 238

[3] Nguyễn Hữu Thái. Hồi ức “Dương Văn Minh và tôi” năm 2008

Nguồn http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=81114 

Thực chất Mỹ là một chế độ độc đảng

 
Noam Chomsky trả lời phỏng vấn 
Gabor Steingart thực hiện
Hải Ngô dịch
 

Noam Chomsky là một trong những nhà ngôn ngữ học quốc tế quan trọng hàng đầu, nhưng ông được biết đến trước hết qua hàng loạt những xuất bản phê phán văn hóa và xã hội, trong đó ông công kích không thương xót đường lối chính trị Mỹ và cũng chỉ ra những hiểm họa của sự toàn cầu hóa. Được mệnh danh là thủ lĩnh lỗi lạc của phe cánh tả Mỹ, trong những cuốn sách của mình như Profit over People (2000) và War against People (2001) Chomsky phân tích sắc sảo hoạt động của những tập đoàn đa quốc gia. Noam Chomsky hiện 79 tuổi, là con một người nhập cư gốc Do Thái từ Đông Âu. Năm 2005 tờ tạp chí Anh Prospect đã tuyên bố ông là nhà trí thức hàng đầu trên thế giới. 
 
Noam Chomsky, trí thức cánh tả người Mỹ, trả lời phỏng vấn của tuần báo Đức Spiegel về cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản, thuật hùng biện của Barack Obama và vai trò của tôn giáo trong chính trị Mỹ.

SPIEGEL: Thưa ông Chomsky, các ngôi đền của chủ nghĩa tư bản đã sụp đổ, chính phủ bảo thủ của nước Mỹ đang dùng những tháng cuối cùng còn lại trong nhiệm kì của mình cho các kế hoạch quốc hữu hóa. Ông cảm thấy thế nào?
Chomsky: Thời buổi đang rất nghiêm trọng, những khó khăn rất to lớn nên tôi khó có thể hả hê được. Tôi chỉ xác định rõ rằng cuộc khủng hoảng này, về quy mô thì có thể không, nhưng về bản chất thì có thể tiên đoán một cách hoàn hảo. Thị trường là thứ bao giờ cũng kém hiệu quả.


SPIEGEL: Chính xác ông đã tiên đoán được điều gì?

Chomsky: Rằng cũng như trong những ngành công nghiệp khác, trong công nghiệp tài chính có những rủi ro không qui ra được bằng giá thành, bởi vậy chúng cũng không được dự toán. Nếu anh bán cho tôi một chiếc xe thì có thể qua đó chúng ta có một vụ kinh doanh thành công. Nhưng vụ kinh doanh này có nhiều ảnh hưởng tới những cái khác không được đề cập trên hóa đơn. Ô nhiễm môi trường gia tăng. Giá xăng dầu đắt lên. Tắc đường xảy ra thường xuyên hơn. Đó là những phí tổn ngoại sinh của vụ kinh doanh của chúng ta. Trong trường hợp của những nhà băng thì các phí tổn ngoại sinh này là khủng khiếp.

SPIEGEL: Nhưng nhiệm vụ của nhà băng một phần cũng là chấp nhận sự rủi ro, và có thể nói đó cũng là mục đích tồn tại của nó?

Chomsky: Dĩ nhiên! Và một nhà băng được điều hành tốt như Goldman Sachs sẽ làm chủ được những rủi ro riêng và có thể bù lỗ những thất thoát của mình. Nhưng không một ngân hàng nào có thể làm chủ được những rủi ro thuộc về hệ thống. Bởi vậy rủi ro bị đánh giá quá thấp và người ta đã mạo hiểm quá mức mà nền kinh tế có thể chịu tốt. Nguy cơ của những rủi ro thuộc về hệ thống đã tăng lên hết sức đáng kể qua việc giảm điều tiết từ phía chính quyền và sự thắng thế của tự do hoá thị trường, khả năng một cơn bão Tsunami tài chính sinh ra từ đó.

SPIEGEL: Mọi thứ đều tốt đẹp cho đến lúc xe trượt bánh. Nhưng liệu có nên đổ trách nhiệm hoàn toàn cho Wall Street không? Có phải tầng lớp trung lưu Mỹ cũng sống dựa vào đồng tiền mượn trước, một ngày nào đó sẽ trả sau hoặc không bao giờ trả được?

Chomsky: Nợ nần của các hộ gia đình là rất lớn, nhưng tôi sẽ không qui trách nhiệm cho từng cá nhân bởi điều đó. Cái chủ nghĩa tiêu thụ này bắt nguồn từ bản chất xã hội của chúng ta, một xã hội bị chi phối bởi những lợi ích thương mại. Có một guồng máy tuyên truyền ồ ạt níu kéo mọi người với tiêu thụ. Tiêu thụ mang tính tích cực cho lợi nhuận và cho sự thiết lập, củng cố chính trị.

SPIEGEL: Các nhà chính trị được gì khi người dân đi xe nhiều, ăn nhiều, mua bán nhiều?
Chomsky: Tiêu thụ phân tán tư tưởng người dân. Giám sát xã hội bằng quân đội thì khó, nhưng phân tán tư tưởng của nó bằng tiêu thụ thì được. Ở điểm này, báo chí kinh tế định hướng mục tiêu rất rõ ràng.

SPIEGEL: Trước đây ít lâu, chính ông đã từng gọi Mỹ là "đất nước tuyệt vời nhất thế giới". Điều này có mâu thuẫn không?

Chomsky: Mỹ là một đất nước tuyệt vời trên nhiều phương diện. Ở đây tự do ngôn luận được tôn trọng hơn hết so với ở tất cả các nước khác. Hiệp chúng quốc là một xã hội rất tự do, ở đây giáo sư và thợ sửa xe chuyện trò bình đẳng. Không ai được đề cao hơn ai.

SPIEGEL: Cách đây hơn 170 năm, sau khi đến thăm nước Mỹ, học giả người Pháp Alexis de Tocqueville đã tường trình rằng: "Quần chúng thống trị giới chính trị Mỹ như Chúa thống trị vũ trụ". Ông ấy có quá khen không?

Chomsky: Chắc chắn. Ngay năm 1787 tại hội nghị hiến pháp, James Madison, một trong những “khai quốc công thần” của nước Mỹ, đã tán thành quan niệm rằng chính quyền nhà nước có nhiệm vụ "bảo vệ nhóm thiểu số giàu có trước nhóm đa số". Do đó thượng nghị viện chỉ gồm một trăm thành viên, phần lớn rất giàu có, và được trao cho rất nhiều quyền lực. Hạ nghị viện với vài trăm thành viên đã là dân chủ hơn, nhưng có ít quyền hạn hơn nhiều. Thậm chí một người thiên về chủ nghĩa tự do như Walter Lippmann, một trong những trí thức hàng đầu của thế kỉ 20, đã có ý kiến rằng trong một chế độ dân chủ hoạt động tốt thì nhóm thiểu số thông minh, đó là những người nên nắm quyền, phải được bảo vệ trước sự "giày xéo và la hét của một bầy đàn bối rối". Còn ở phe bảo thủ thì mới đây, phó Tổng thống Dick Cheney đã minh họa cách hiểu dân chủ của mình. Khi được hỏi tại sao ông ủng hộ duy trì cuộc chiến Iraq, trong khi đa số dân chúng phản đối cuộc chiến này, thì câu trả lời của ông ta là: "Thế thì đã sao?"

SPIEGEL: "Change" là từ mốt trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay. Ông có nhìn thấy những cơ hội cho một sự thay đổi sớm và rõ rệt cho nước Mỹ? Ông có bị khích động, bị "fired up", nói theo kiểu một hiệu lệnh xung trận của Obama?

Chomsky: Không chút nào cả. Cái phản ứng ở châu Âu về Obama là một sự tự lừa phỉnh kiểu châu Âu.

SPIEGEL: Dù sao Obama nói ra những câu tốt đẹp mà từ lâu người châu Âu mong đợi. Ông ấy nói về tình hữu nghị xuyên Đại Tây dương, sự ưu tiên của chính sách ngoại giao và sự hòa giải của xã hội Mỹ.

Chomsky: Tất cả là thuật hùng biện, ai hơi đâu mà quan tâm tới những điều đó. Toàn bộ cuộc tranh cử này xoay quanh thuật hùng biện xuất thần, xoay quanh hy vọng, sự biến chuyển, xoay quanh tất cả những cái có thể, chỉ không xoay quanh những vấn đề cụ thể.

SPIEGEL: Không lẽ ông thấy phe kia nhiều hứa hẹn hơn: cựu chiến binh Việt Nam 72 tuổi McCain và cựu hoa hậu Sarah Palin từ Alaska?

Chomsky: Hiện tượng Sarah Palin thực sự là độc đáo. Nếu ai đó từ sao Hỏa quan sát chúng ta, người đó có thể nghĩ rằng đất nước chúng tôi bị loạn trí.

SPIEGEL: Có vẻ như những người cực bảo thủ và những cử tri sùng đạo rất hân hoan?

Chomsky: Đừng bao giờ nên quên là đất nước này được thiết lập bởi những người theo đạo cuồng tín. Giới tôn giáo bảo căn luôn giữ vai trò quan trọng trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ Jimmy Carter. Ông ta là người đầu tiên tự trưng trước công chúng như thể là Chúa hồi sinh. Từ đó sự tính toán của đám điều hành vận động tranh cử là: Hãy tỏ ra là người theo đạo cuồng tín, thực tế anh sẽ tự động nhận được một phần ba số phiếu cử tri. Ở thời của Tổng thống Lyndon B. Johnson những năm 60, còn chưa ai hỏi liệu ông ấy có đến nhà thờ hàng ngày không. Bill Clinton có lẽ cũng sùng đạo như tôi, tức là bằng không, nhưng những trợ lý của ông ấy đảm bảo rằng sáng Chủ nhật nào ông ấy cũng đến nhà thờ Baptist để hát thánh ca.

SPIEGEL: Liệu ông có thể nói tốt cho McCain chút nào không?

Chomsky: Về một phương diện thì ông ấy thật thà hơn ứng viên đối thủ. Ông ấy đã làm sáng tỏ rằng cuộc bầu cử này không xoay quanh những vấn đề cụ thể, mà chỉ xoay quanh các cá nhân. Những người Dân chủ không được thật thà như vậy, mặc dù họ nhìn vấn đề không khác chút nào.

SPIEGEL: Như vậy theo ông thì phe Cộng hòa và phe Dân chủ chỉ là những dạng khác nhau của một đường lối chính trị chung?

Chomsky: Tất nhiên là có những khác biệt, nhưng không phải là cơ bản. Đừng có ai nên ảo tưởng. Thực chất Mỹ là một chế độ độc đảng, và cái đảng cầm quyền là Đảng Kinh doanh.

SPIEGEL: Ông cường điệu hóa. Trong hầu hết những vấn đề cốt yếu, từ việc đánh thuế người giàu đến năng lượng nguyên tử, hai bên luôn có những lập trường khác nhau, đặc biệt trong vấn đề chiến tranh và hòa bình. Những người Cộng hòa muốn chiến đấu tới lúc thắng lợi tại Iraq, dẫu cho tới cả trăm năm nữa như McCain đã nói. Những người Dân chủ thì yêu cầu một kế hoạch rút quân.

Chomsky: Nhìn cho kĩ thì chúng ta sẽ nhận ra rằng những khác biệt này mới hạn chế và mỉa mai làm sao. Phái diều hâu tuyên bố, chúng ta sẽ chiến thắng nếu tiếp tục cuộc chiến. Phái bồ câu nói rằng cuộc chiến quá đắt đỏ. Đố anh nêu cho tôi được một chính trị gia Mỹ, người thẳng thắn phát biểu rằng cuộc xâm lược này là một tội ác. Vấn đề không ở chỗ, liệu chúng tôi có thắng hay không, hoặc liệu cuộc chiến có quá đắt hay không. Anh còn nhớ cuộc xâm lược của Liên Xô vào Afghanistan không? Lúc đó chúng ta có tranh luận liệu Liên bang Xô-viết có thể giành được chiến thắng, hoặc cuộc chiến đó có quá đắt không? Có thể những cái đó đã được tranh luận tại Điện Kremlin hoặc trên báo Pravda. Đó là kiểu tranh luận thu hẹp mà thông thường ta thấy ở những xã hội toàn trị; điều quan trọng không phải là ai thắng ai thua. Giả sử có được những thắng lợi tại Iraq như Putin ở Chechnya, chắc tướng Petraeus đã được phong vương. Vấn đề then chốt thực ra là, liệu chúng ta có áp dụng cho bản thân mình những thước đo mà ta dành cho người khác không.

SPIEGEL: Theo ông, ai ngăn cản giới trí thức đặt ra câu hỏi này và trả lời nó với tinh thần phê phán? Vừa rồi ông đã tán dương tự do ngôn luận ở Mỹ.

Chomsky: Giới trí thức vô cùng tuân thủ. Ngay Hans Morgenthau, một trong những người sáng lập chủ nghĩa Hiện thực Chính trị (Political Realism), đã lên án sự phục tùng quyền lực của một bộ phận trong giới trí thức. George Orwell đã viết rằng những người theo chủ nghĩa dân tộc, thông thường là toàn bộ giới trí thức của một đất nước, không những không lên án các tội ác của nhà nước họ, mà họ còn có khả năng phi thường là thậm chí không từng nghe tới những tội ác đó. Điều này chính xác. Chúng tôi nói nhiều về tội ác của người khác. Về tội ác của chính nước mình thì chúng tôi là những người theo chủ nghĩa dân tộc theo nghĩa của Orwell.

SPIEGEL: Nhưng ở Mỹ và khắp thế giới đã và đang có những phản đối lớn tiếng chống chiến tranh Iraq?

Chomsky: Ít ra thì cũng có nhiều phản đối chống chiến tranh Iraq hơn so với chống chiến tranh Việt Nam thời kì đầu. Năm 1962, khi Kennedy điều cố vấn quân sự tới Việt Nam thì chỉ có một cái ngáp dài, rồi chẳng bao lâu sau, tin 4000 binh sĩ đầu tiên tử trận và 150.000 lính Mỹ tham chiến cũng chẳng làm ai quan tâm.

SPIEGEL: Cuối cùng, có lẽ ông có đôi lời giải hòa về tình thế quốc gia?
Chomsky: Xã hội Mỹ ngày nay văn minh hơn so với trước kia. Chúng tôi có được điều này nhờ vào sự phát triển trong những năm 60. Xã hội chúng tôi và cả xã hội châu Âu lúc đó đã trở nên tự do hơn, cởi mở hơn, dân chủ hơn và qua đó làm nhiều người khiếp đảm. Vì điều này mà thế hệ đó đã bị lên án. Nhưng nó đã phát huy tác dụng.

SPIEGEL: Thưa ông Chomsky, cám ơn ông về cuộc phỏng vấn này.
 
 

(Nguồn: http://lichsuvn.info/forum/)

258-cuộc chơi đã ngã ngũ


xung quanh tuyên bố 258 và phản bác tuyên bố 258
Sự kiện một nhóm nào đó xưng danh “ Mạng lưới Blogger Việt Nam “(MLB) ra sức vận động quốc tế can thiệp để “nhà cầm quyền Cộng Sản “ bỏ điều 258 BLHS có lẽ sẽ nhanh chóng chìm vào quên lãng nếu như không có một sinh viên tên Hoàng Thị Nhật Lệ( cùng các nhóm ủng hộ) lên tiếng phản bác hành vi này . Những ngày qua , bài viết của tác giả Trịnh Hữu Long (THL) được dư luận quan tâm . Bài viết hâm nóng dư luận và hướng dư luận vào mặt khác chứ không nhắm vào chủ thể là luật 258 BLHS . Tác giả NHL rất khéo léo trong sắp đặt câu chữ. Lâu nay người ta đã quen với các bài viết chửi rủa chế độ & Đảng CSVN bằng ngôn từ không lấy gì gọi là lịch sự . Tác giả NHL có lối viết ôn nhu , lịch lãm , rất đáng hoan nghênh . Tuy nhiên , tác giả đứng ở đâu ? ủng hộ cái nào khi tác giả mâu thuẫn với chính mình :
“Tôi là người không phản đối nhóm Tuyên Bố 258 hay nhóm Phản Bác Tuyên Bố 258” sau đó lại nói “Với tư cách là một người ủng hộ “Mạng lưới blogger Việt Nam và Tuyên Bố 258 tôi muốn trao đổi …”
Cho dù tác giả đứng ở phía nào thì việc tác giả trao đồi với HTNL cũng không thể tách rời khỏi yếu tố chính là điều luật 258
XIn nói một chút để mọi người hiểu hơn về điều 258
Điều 258. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân:
1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
Câu chữ rõ ràng như thế , nghĩa là 258 không cấm tự do ngôn luận , không ngăn cản ai “thực hiện quyền con người” . Luật 258 dùng để đảm bảo quyền lợi của công dân, các tổ chức và quyền lợi đất nước . 258 bảo vệ nhân phẩm danh dự của công dân trong trường hợp bị vu khống . Với các tổ chức cũng thế , quyền lợi hợp pháp được đảm bảo . Một ví dụ nhỏ, Công An ND phải là một tổ chức hợp pháp không ? Những cá nhân nào đó nói Công An chặt tay Điếu Cày có phải “thực hiện quyền con người “?. Trên bình diện quốc gia , nếu công dân dùng quyền tự do ngôn luận của mình gây căng thẳng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và nước X, Y,Z nào đó dẫn đến Việt Nam thiệt thòi trong đàm phán về kinh tế hoặc nghiêm trọng hơn là va chạm vũ trang thì sao ? Tự do ngôn luận phải phù hợp và hài hòa với lợi ích chính đáng của công dân khác và lợi ích quốc gia . Nói cách khác tự do ngôn luận như con dao, dùng thái rau củ quả , mổ bò mổ heo là chính đáng , nhưng dùng để chém giết người khác thì không được .Đây mới chính là lý do tại sao nhiều không muốn bỏ điều 258 BLHS. Tác giả NHL viết rằng ” Cầu viện nước ngoài không phải là việc xấu, trừ khi nó được sử dụng cho mục đích xấu”. Một điều luật đảm bảo quyên lợi công dân& nhà nước mà MLB “cầu viện” nước ngoài ép bỏ thì có xấu không ? Cá nhân tôi tin rằng nếu tác giả NHL sống ở Việt Nam và bị ai đó vu khống đến nỗi gia đình tan nát mà không được pháp luật bảo vệ , ông sẽ thấm thía và trả lời được câu hỏi trên.
Hoàng Thị Nhật Lệ ( HTNL) là một sinh viên trẻ , cô ấy nhận thức được sự cần thiết cùa 258 và lên tiếng phản bác nhóm MLBlà điều hoan nghênh . Với một người tuổi mới hơn 20 , đòi hỏi cô ấy phải chỉnh chu trong lập luận , hoàn hảo từng câu chữ có vẻ như quá khắt khe . Ở đây có sự khác biệt giữa nhóm MLB và HTNL. Nhóm MLB tìm cách “nhờ cậy “ quốc tế, còn HTNL ( cùng bạn bè ) lên tiếng phản bác hành vi của MLB chứ không “nhờ cậy “ ai .
Chúng ta hãy nhìn cách các nhà hoạt động xã hội ở Âu- Mỹ vận động cho một điều luật nào đó, họ có vác đơn qua nước khác nhờ nước khác can thiệp không ? Lịch sử nền dân chủ Mỹ có nhiều mốc tiến bộ như giải phóng nô lệ , quyền con người cho người da đen….Họ đạt được kết quả đó phải chăng là nhờ nước can thiệp? nền dân chủ Việt Nam có cơ chế cho các MLB vận động một điều họ muốn được Quốc Hội thông qua không ? xin thưa là có nhưng MLB đã từ bỏ quyền dân chủ của mình để “nhờ cậy quốc tế”. MLB Tác giả dùng sử liệu về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh để thuyết phục mọi người hồn nhiên tin rằng hành vi của MLB cũng giống như cụ Hồ năm xưa, nghĩa là chống lại chính quyền bằng con đường “ nhờ cậy nước nước ngoài” là đúng đắn , Tác giả cố tình quên rằng chính quyền Pháp thuộc khác biệt hoàn toàn với chính quyền CHXHCN Việt Nam ngày nay . Khác biện lớn nhất là chính quyền Pháp thuộc không phải chính quyền nhân dân và không có cơ chế để Chủ tịch Hồ Chí Minh vận động này nọ hòng làm điều gì có ích cho nhân dân. Nếu tác giả NHL không thừa nhận chính quyền CHXHCN Việt Nam là của nhân dân thì xin vui lòng mở một cuộc tranh luận khác, dứt khoát không thể mặc nhiên áp đặt hai chính quyền như nhau và bắt cụ Hồ phải ngồi ngang hàng với MLB.
Tác giả NHL cho rằng chính quyền & đất nước là hai thực thể khác nhau cho nên việc chống chính quyền không có nghĩa là chống đất nước . Điều này chỉ đúng với một chính quyền không đồng hành với lợi ích đất nước như chính quyền VNCH, hay chính quyền Bảo Đai. Chính quyền CHXHCN Việt Nam đồng hành với lợi ích đất nước . Chống lại chính quyền trong trường hợp này là chống lại lợi ích đất nước . Nếu tác giả NHL muốn nói chính quyền CHXHCN Việt Nam là không chính danh , không vì đất nước thì hãy viết bài riêng khẳng định quan điểm của mình , không nên ẩn quan điểm dưới câu chữ bóng bẩy và tấm bình phong 258, đó mới là cái lương thiện của một quân tử khi cầm bút .
Nếu Việt Nam không có tự do ngôn luận liệu rằng MLB có thể bình yên sau khi họ đưa tuyên ngôn này nọ hay phải trốn chui trốn nhủi đâu đó như Snowden ?
Tác giả đi quá sâu vào các chi tiết lặt vặt, những sơ sót trong lập luận của cô bé tuổi 20.Một bài viết quá dài , có vẻ như thuyết phục của tác giả NHL đã làm người đọc quên mất vấn đề chính đó là :
258 là điều luật cần thiết không thể bỏ. MLB từ bỏ quyền dân chủ đi “ cầu viện “ nước ngoài là làm xấu mặt nền dân chủ Việt Nam gián tiếp vu khống chính quyền CHXHCN Việt Nam . Hoàng Thị Nhật Lệ cùng bạn bè phản đối điều này là hợp lý 

Bao Bất Đồng 

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

TRỊNH HỮU LONG - ẤU TRĨ VÀ NGU NGƠ

Nhóm “Phản đối Tuyên bố 258” của Nhật Lệ lại gởi email cho tôi hai bài:
1- Cuộc tranh luận về điều luật 258 của Kính Hòa (phóng viên RFA,
2013-09-18).
2- Trao đổi với Hoàng Thị Nhật Lệ và Đông La về Tuyên bố 258của Trịnh Hữu Long (http://blog.trinhhuulong.com/, 20/9/2013).
Với lời giới thiệu: “Có bài của cây báo gạo cội Trịnh Hữu Long phản bác bác Đông La và Hoàng Thị Nhật Lệ ạ” và nhờ “Bác nghiên cứu giúp”.
Tiếc là tôi vẫn chưa biết “cây báo gạo cội” Trịnh Hữu Long là ai?
Về bài của Kính Hòa (phóng viên RFA).
Phóng viên này kể: “Chúng tôi đã tìm cách tiếp cận… Cô Hoàng Thị Nhật Lệ, một trong những người tiến hành thu thập chữ ký để phản đối kiến nghị 258”, rồi cho biết Nhật Lệ đã “nói” với “đài RFA”:
Điều luật hình sự nước CHXHCN VN năm 1999, sửa đổi năm 2009 qui định rõ áp dụng với những kẻ lợi dụng quyền tự do dân chủ, tôi nhấn mạnh lợi dụng, để xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích của cá nhân và tổ chức. Đối với những người không lợi dụng thì đâu có lý do gì mà sợ”.
Ý của Nhật Lệ như vậy là đúng một cách hiển nhiên. Việc phản đối Điều 258 đồng nghĩa với việc đề nghị nhà nước công nhận sự “lợi dụng quyền tự do dân chủ” để “xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích của cá nhân và tổ chức”. Một điều mà bất cứ ai chưa mất trí khôn cũng phải thấy là phi lý.
Nhật Lệ nói tiếp: “Điều luật 258 đã được quốc hội Việt Nam, cơ quan lập pháp cao nhất của nước Việt Nam, khi muốn chỉnh sửa điều này thì phải cần sự đồng thuận của nhân dân Việt Nam. Trong khi họ chỉ là một nhóm nhỏ không được sự đồng thuận của nhân dân Việt Nam, đến các đại sứ quán các nước để trao bản tuyên bố nhân danh các blogger, các facebooker, chúng tôi không đồng ý”.
Ý này cũng lại quá đúng luôn. Quốc hội VN là cơ quan quyền lực cao nhất nước ta, cá nhân, nhóm người có thể có kiến nghị gửi đến Quốc hội theo các cách thức khác nhau, như trực tiếp gặp Đại biểu Quốc hội hoặc các Đoàn Đại biểu Quốc hội ở các địa phương chẳng hạn. Quốc hội buộc phải xem xét. Nếu đúng Quốc hội phải nghe theo, nếu sai Quốc hội không nghe. Có điều đúng hay sai là do Quốc hội quyết định, đơn giản là vì Quốc hội có quyền. Nếu kiến nghị bị bác bỏ thì người kiến nghị phải chịu, còn không chịu, muốn thực hiện ý mình bằng được thì chỉ có cách là phải lật đổ chế độ hiện thời thôi, rồi lập ra một chế độ mới để thực hiện được ý mình. Nhưng làm không được bị tù thì ráng mà chịu! Nhóm “Tuyên bố 258” biết trước ý mình không bao giờ được Nhà nước chấp thuận nên đã đưa bản Tuyên bố cho nước ngoài. Cần phải hiểu hành động đó thật liều lĩnh, bởi nó có tính chất phản quốc, đi cầu ngoại bang can thiệp vào công việc nội bộ của VN.
Kính Hòa kể tiếp:
Chúng tôi hỏi chuyện cô Phương Dung, một trong những người thuộc nhóm kiến nghị 258 và cũng thuộc nhóm các bloggers đến cơ quan nhân quyền Liên Hiệp Quốc để trao kiến nghị. Cô Phương Dung nói về nhóm đang phản đối nhóm 258:
“ …Họ nói chúng tôi là mạo danh làm ô uế tinh thần dân tộc của họ, trong khi chúng tôi là những người công khai có tên tuổi đàng hoàng.
Họ nói rằng đấy là công việc của Bộ ngoại giao trong khi Nhà nước có quyền lực trong tay đàn áp người dân thì làm sao người dân có thể lên tiếng được. Họ nói chúng tôi là cầu viện ngoại bang như Trần Ích Tắc, thế thì ngày xưa bác Hồ cũng yêu cầu Mỹ can thiệp để trả độc lập cho Việt Nam, hay là nhận viện trợ từ Trung Quốc thì sao? Họ nói chúng tôi cũng giống ông Hồ Chí Minh à?...”
Cái chuyện “làm ô uế” tùy thuộc tính chất của hành động chứ không phải “công khai tên tuổi” thì không ô uế! Không lẽ công khai đi ăn cướp thì không xấu chăng? Việc phát ngôn tùy tiện: “Nhà nước có quyền lực trong tay đàn áp người dân” cũng là phạm tội vu cáo. Bởi Nhà nước VN chưa có bất kỳ một chính sách nào để “đàn áp người dân”. Nếu trong xã hội có hành động như vậy là phạm pháp. Nhưng cũng cần phải phân biệt việc bắt và trấn áp những cá nhân, nhóm người quấy rối, làm càn vì an ninh chung không phải là “đàn áp”. Trong khi thi hành trọng trách đó, những cá nhân có thể có những hành động thiếu bình tĩnh và mất kiềm chế cũng sẽ là sai trái. Nhưng cho những cái đó là “nhà nước đàn áp người dân” là phóng đại xuyên tạc.
Còn Phương Dung cho “Họ nói chúng tôi là cầu viện ngoại bang như Trần Ích Tắc, thế thì ngày xưa bác Hồ cũng yêu cầu Mỹ can thiệp để trả độc lập cho Việt Nam, hay là nhận viện trợ từ Trung Quốc thì sao? Họ nói chúng tôi cũng giống ông Hồ Chí Minh à?...”
Việc cho hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh giống hành động của Trần Ích Tắc, hành động của mình giống hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đúng là cái lý sự bậy bạ, mất dạy, dốt nát và bố láo!
Phải hiểu Trần Ích Tắc khi Nhà Trần đang đánh quân xâm lược Nguyên Mông thì đem cả gia đình đi hàng giặc, được Hốt Tất Liệtphong làm An Nam Quốc vương và chờ ngày đưa trở về nước làm vua tay sai. Khi quân Nguyên Mông đại bại, Trần Ích Tắc phải ở lại làm quan rồi chết luôn ở bên Trung Quốc. Vì sự phản bội này nhà Trần đã loại Ích Tắc ra khỏi tôn thất, cho đổi tên thành Ả Trần (hèn nhát như ả đàn bà).
Vì vậy hành động hàng giặc cầu vinh, phản bội lại đất nước sao lại cho giống như hành động của Bác Hồ “yêu cầu Mỹ can thiệp để trả độc lập cho Việt Nam”, “nhận viện trợ của Trung Quốc” để chống ngoại xâm, giải phóng đất nước? Hai hành động có mục đích trái ngược nhau sao lại cho là như nhau? Đó là cái nhìn của một cái đầu trí thấp, tâm tối, không còn phân biệt được cái gì là đúng sai, cái gì là tốt xấu nữa!
Còn bài của Trịnh Hữu Long?
Trịnh Hữu Long cũng có một “cái nhìn của một trí thấp, tâm tối không còn phân biệt được đâu là đúng sai, đâu là tốt xấu” về chuyện “cầu viện” như của Phương Dung vừa nói ở trên, không cần bàn nữa cho mất công.
Về chuyện tiếm danh của nhóm “Tuyên bố 258”?
Trịnh Hữu Long cho nhóm “Tuyên bố 258” tiếm danh cũng như : “Năm Hồ Chí Minh cùng các đồng chí đã lập ra “Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa”; “Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông””. Rồi Đảng lao động Việt Nam lập ra một tờ báo lấy tên là “Nhân dân” và tự nhận là “tiếng nói của nhân dân Việt Nam”, v.v…
Về logic hình thức Trịnh Hữu Long rất đúng, nhưng về bản chất thì sai hoàn toàn. Khi Bác Hồ và Đảng có những hành động như trên là khi dân ta đã mất nước, các hành động đó đã vì lợi ích của cả dân tộc, ngoại trừ những kẻ bù nhìn, tay sai. Vì tính chất của những hành động nói lên đúng nguyện vọng của nhân dân, nên mới được công nhận, và cả dân tộc đã tin và đi theo Đảng, Bác; có vậy thì cuối cùng mới giành được thắng lợi. Còn nhóm “Tuyên bố 258” ngược lại, chỉ có dúm người sao lại nhân danh “Việt Nam” chống lại Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của chính nước VN? Nếu cho hành động đó đúng thì chỉ là nhân danh một nước VN nào khác chưa ra đời mà thôi!
Còn nhóm Nhật Lệ cũng chỉ là “một dúm người”, cũng nhân danh “Việt Nam”, nhưng hoàn toàn có lý vì mục đích là để bảo vệ Quốc hội và Nhà nước VN, nghĩa là nhóm Nhật Lệ đã lên tiếng hộ mọi người. Vì đúng, có lý nên chỉ trong một thời gian rất ngắn đã được nhiều cá nhân cũng như các cơ quan ủng hộ gấp rất nhiều lần cái Tuyên bố phạm pháp của nhóm Đoan Trang. Như vậy tiếm danh hay không là do tính chất của hành động chứ không phụ thuộc vào lượng người, khi ông Nguyễn Cao Kỳ tự nhận là bù nhìn thì cả cái thể chế VNCH cũng không thể đại diện cho VN!
 Về chuyện “Nhóm nhỏ cá nhân không được phép liên hệ với sứ quán”?
Trịnh Hữu Long viết: “Blogger Hoàng Thị Nhật Lệ và tác giả Đông La cho rằng, một nhóm nhỏ cá nhân không thể tùy tiện liên hệ với đại sứ quán nước ngoài, vì đó là việc “quốc gia đại sự” và phải thông qua Bộ ngoại giao mới được tiến hành.
Bất kỳ ai cũng có thể ngay lập tức nảy ra câu hỏi: Những cá nhân muốn xin visa, học bổng du học và nguồn tài trợ từ các đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam có được tự ý thực hiện không? Hay cần phải thông qua Bộ ngoại giao?”
Việc xin du học là thực hiện một việc thuộc phạm vi chính sách của nhà nước đã ban hành, sao lại có thể ví với chuyện cầu viện nước ngoài đòi xóa bỏ một điều luật vì dân, vì nước. Còn rất nhiều chuyện liên hệ với nước ngoài để làm ăn trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, du lịch, v.v…, không ai lại ngớ ngẩn cho là cầu viện nước ngoài cả!
Về chuyện “Nhóm 258 đã chống lại pháp luật Việt Nam, chống lại Quốc hội”?
Trịnh Hữu Long trích trong bài tôi viết: “...nhóm Đoan Trang đã sai và chống lại luật pháp Việt Nam, bởi Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào và Đinh Nhật Uy bị bắt vì phạm pháp chứ không phải vì họ ‘đã thực hiện quyền tự do biểu đạt bằng các đăng tải các bài viết ôn hoà lên blog của họ’”. Rồi so sánh: “Hồ Chí Minh đã từng bị bắt ít nhất hai lần vào năm 1931 ở Hồng Kông và năm 1942 ở Quảng Châu – Trung Quốc, đều với lý do “phạm pháp”. Các nhà lãnh đạo Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Văn Kiệt đều từng bị bắt và tống giam với lý do tương tự. Chúng ta hẳn cũng từng nghe qua câu nói của mục sư Martin Luther King: Đừng bao giờ quên rằng, tất cả những gì Hitler đã làm ở Đức đều là hợp pháp” (nguyên văn: “Never forget that everything Hitler did in Germany was legal”)”.
Đọc đoạn này tôi thật ngạc nhiên tại sao lại có một cái kiểu lý sự thật buồn cười như thế?
Trước hết, đã phạm pháp thì dù ở nước nào cũng bị xử lý, Phát Xít hay không Phát xít cũng vậy, như việc nước Mỹ truy lùng Snowden gần đây chẳng hạn. Trịnh Hữu Long đã rất sai trái và ngô nghê khi lại mang pháp luật của nước Đức thời Phát-xít Hít-le ra so sánh. Việc cho chế độ VN hiện thời bắt Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào và Đinh Nhật Uy phạm pháp là đã hành xử như chế độ phát xít là một cái nhìn bệnh hoạn, xuyên tạc, bất chấp thực tế. Bởi chủ nghĩa phát xít cho việc tiêu diệt dân Do Thái và xâm lược toàn thế giới là sứ mệnh của chúng, và thực tế chúng đã gây ra Cuộc Đại chiến thế giới thứ II kinh khủng khiếp. Có lẽ nào Nhà nước VN hiện thời cũng đang như thế? Còn việc so sánh Bác Hồ hoạt động cách mạng bị bắt cũng phạm pháp như những kẻ quấy rối làm càn thì cũng thật bậy bạ và mất dạy. Bởi Bác Hồ dấn thân vào chốn hiểm nguy vì công cuộc giải phóng đất nước, giành lại nền độc lập bị địch bắt, sao lại so với những tên viết bậy, nói bậy, quấy rối làm càn, hại dân hại nước, bị bắt theo theo pháp luật của chính Nhà nước VN? Không phân biệt được như vậy chẳng khác gì cho người chiến sĩ giết giặc trên chiến hào cũng như hành động của tên cướp giết người trên đường phố. Chỉ có một cái đầu trì độn và mất hết nhân tính mới nghĩ như thế mà thôi!
Trịnh Hữu Long bàn tiếp về chuyện “phạm pháp”:
Cần thiết phải hình dung về khái niệm “bị bắt vì phạm pháp” và khái niệm “pháp luật” một cách đầy đủ trước khi kết luận bất cứ một vấn đề pháp lý nào. Để làm được việc đó, một người nghiên cứu nghiêm túc nhất thiết không thể bỏ qua thông tin sau đây của Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp):
Trong 10 năm, các cơ quan kiểm tra văn bản cả nước đã tiếp nhận, kiểm tra trên 1,7 triệu văn bản, phát hiện trên 50 nghìn văn bản sai trái và đã xử lý ở các mức độ khác nhau. Riêng Cục Kiểm tra văn bản đã tiếp nhận, kiểm tra trên 27 nghìn văn bản, phát hiện trên 4,8 nghìn văn bản sai trái và đã xử lý ở các mức độ khác nhau.” – Quyết định số 214/QĐ-KtrVB, ngày 23/8/2013.
Nếu nói rằng, hành vi ra tuyên bố yêu cầu bãi bỏ một điều luật là hành vi chống lại pháp luật Việt Nam, thì Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và các đại biểu Quốc hội là những người chống lại pháp luật Việt Nam một cách thường xuyên, lâu dài, có hệ thống và có tổ chức nhất.
Nếu nói như tác giả Đông La, rằng “việc làm của nhóm Đoan Trang thực sự là hành động chống lại việc thi hành công vụ của không chỉ một cá nhân, một cơ quan mà là Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân Việt Nam!” thì hẳn Đông La đang tát những cú đầy cay nghiệt vào mặt các đại biểu Quốc hội, vốn thường xuyên tiếp nhận ý kiến đóng góp của cử tri về việc thi hành, sửa đổi luật, kể cả trực tiếp tại địa phương lẫn gián tiếp trên báo chí và môi trường mạng”.
Hiến pháp, các Bộ luật là lý thuyết chung, triển khai vào thực tế không thể không có sai phạm. Vì thế mới có Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Và khi kiểm tra thì việc Cục này thấy có những sai trái là lẽ đương nhiên. Cái chính là phải khắc phục. Còn các Đại biểu Quốc Hội, nhiệm vụ của họ là phải nghe ý kiến người dân để thể hiện ý kiến đó và ý kiến của chính họ trên nghị trường. Đó chính là dân chủ. Nhưng nên nhớ Đại biểu Quốc Hội khác với Quốc Hội, họ cũng có ý đúng, ý sai, dân cũng có ý đúng, ý sai. Như trường hợp 2 ông Nguyễn Minh Thuyết và Dương Trung Quốc chẳng hạn. Ông Thuyết từng đề nghị đình chỉ chức vụ Thủ tướng để điều tra vụ Vinashin, còn ông Quốc từng gợi ý Thủ tướng từ chức. Nhưng ý của họ đều sai và Quốc hội đã không quyết theo. Ông Thuyết, ông Quốc dù rất muốn ý mình được thực hiện nhưng đâu có dám như nhóm Đoan Trang ra tuyên bố kêu gọi người dân ủng hộ và  đi “cầu viện” nước ngoài. Đơn giản là vì các ông ấy già hơn thì khôn hơn.
Vì vậy, Trịnh Hữu Long đã sai hoàn toàn khi cho việc làm của Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và việc các Đại biểu Quốc Hội thực thi công việc của mình cũng giống như hành động đòi bỏ hẳn một điều luật đã được Quốc Hội thông qua vì lợi ích chung.
Nhóm Đoan Trang, Phương Dung có quyền tự do ngôn luận theo lẽ phải của mình. Cái chính là phải chịu trách nhiệm về tính chất của hành động đó, bởi có thể theo mình là phải nhưng với ngưới khác là trái, và với cơ quan công quyền là phạm pháp!
Với một cái Tuyên bố mà như tôi và nhiều người đã chỉ ra sự sai trái trong nội dung của nó thì việc nhà nước bác bỏ là đương nhiên. Cô Phương Dung biện hộ cho việc “cầu viện” nước ngoài như thế này: “trong khi Nhà nước có quyền lực trong tay đàn áp người dân thì làm sao người dân có thể lên tiếng được”, nghĩa là cô đã cho lẽ phải hoàn toàn thuộc về mình, cho việc ý mình không được thực hiện là bị “Nhà nước đàn áp”, nên đã kêu gọi mọi người ủng hộ và đi “cầu viện” nước ngoài mong thực hiện kỳ được ý của mình. Vậy hành động đó không phải là kích động quần chúng và “cầu viện” ngoại bang để chống lại Quốc hội, chống lại nhà nước Việt Nam hiện thời thì là hành động gì?
Trong Lời kết, Trịnh Hữu Long viết:
Không thể phủ nhận là tôi dành nhiều thiện cảm cho blogger Nhật Lệ, bởi blogger trẻ tuổi này tỏ ra tôn trọng người khác và ít phạm lỗi ngụy biện hơn nhiều so với Đông La. Trong khi Đông La dùng phép ngụy biện tấn công cá nhân (ad hominem) đối với nhà báo Đoan Trang và nhóm 258, cũng như viện dẫn những vấn đề không liên quan đến Tuyên bố 258 như vụ Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Đắc Kiên để kết luận vấn đề, thì blogger Nhật Lệ đã cố gắng tỏ ra lý lẽ, nhã nhặn và lịch sự”.
Tác giả “Tuyên bố 258” là một nhóm. Một nhóm là do những cá nhân cụ thể nhóm lại chứ không thể là những người vô hình. Với những cơ quan công quyền thì trước hành vi phạm pháp người ta phải lập hồ sơ điều tra cụ thể toàn diện về từng cá nhân, còn tôi viết một bài báo thì chỉ cần viết về người mà tôi biết rõ nhất, mà cũng tỏ ra nổi trội xông xáo nhất, đó chính là cô Đoan Trang. Vậy viết về Đoan Trang thì phải viết về toàn bộ những hành động và suy nghĩ của cô ta liên quan đến vụ việc. Nếu không chính tôi sẽ phạm tội vu cáo. Như những quan điểm của Đoan Trang về viết báo, về việc cô ủng hộ những cá nhân từng vi phạm Điều luật 258 như Hà Vũ, Đắc Kiên. Còn chuyện cô ta xấu đẹp, cao thấp, con cái nhà ai thì không liên quan, nên dành cho những ai ngồi lê đôi mách viết, chứ tôi thì không cần. Ngụy biện là biện bác bằng những chứng cớ giả, sai trái. Vậy Trịnh Hữu Long nói tôi “ngụy biện” thì ngụy biện cái gì? Với những chứng cớ xác thực tôi trích từ chính blog của Đoan Trang, liên quan trực tiếp về Điều 258, vậy Trịnh Hữu Long viết tôi “ngụy biện” thì không những viết bậy mà còn dốt nát, không hiểu nghĩa ngụy biện là gì!
Cả bài viết của Trịnh Hữu Long thể hiện một cái nhìn ấu trĩ, ngô nghệ, chỉ đọc được cái vỏ chữ mà không hiểu nghĩa là gì, giống như việc cứ thấy hai muối của Natri đều mầu trắng thì đều ăn được. Nhưng Natri clorua thì không ăn người ta sẽ chết, còn Natri Xyanua thì chỉ cần tí ti thôi, sau ít giây ăn phải người ta sẽ toi ngay! Một tư duy như vậy mà cũng đi bàn chuyện chính trị, chuyện đại sự quốc gia thì thật nguy hiểm. Cần phải biểu chuyện chính trị như nước sôi, ngu ngơ nhúng tay vào là bị bỏng đấy!
TPHCM
22-9-2013
ĐÔNG LA