Hiển thị các bài đăng có nhãn tết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học

Hoàng Hữu Phước
Tại một nước văn minh nọ có đời sống văn hóa rất đặc trưng: thiên hạ có gì, ta có nấy, và trên cơ sở đó có tất tần tật mọi thứ, từ vật chất hữu hình mà dân Ăng-lê gọi là tangible cho đến thứ không động chạm sờ mó gì được mà tiếng Mỹ gọi là intangible. Và cứ thế mà cái nước gọi là “nọ” ấy có trí thức, nhân sĩ, nhà khoa học, nhà sử học, v.v., dù người dân chớ biết ở nước họ  ai là nhà khoa học, ai là nhà trí thức, ai là nhân sĩ, v.v. , thế nào là nhà khoa học, thế nào là nhà trí thức, thế nào là nhân sĩ, v.v, vì chưa hề có các danh sách liệt kê thống kê các vị này để truyền lưu sử sách lưu truyền hậu thế.
Và thế là phát sinh tự do ở tất cả các giai tầng.
Báo chí tự do viết “các nhà khoa học cho rằng…”
Nhà nước “đưa trí thức trẻ về các địa phương vùng sâu vùng xa…”
Ai khoái đem tên hùn hạp vào ý kiến của một cá nhân để thành bầy thành đàn thành đám thành nhóm thành nhúm gọi tắt là bầy đàn thì tự xưng “nhân sĩ”.
Cá nhân nào không muốn và không thể học lên cao hơn thì cứ gắn chữ “nhà” vào cho oách như có kẻ tự xưng là “nhà sử học”.
Trước cái oái oăm ấy, có kẻ sĩ nọ thay vì ngữa mặt lên trời mà hét to một tiếng làm lạnh cả bầu trời như Không Lộ Thiền Sư, lại châm biếm châm chọc châm chích trào phúng trào lộng trào dâng cười to thẳng tắp thẳng thừng thẳng ngay vào mặt nhân gian mà tự gọi tự trào là “nhà đủ-thứ-học học” mà tiếng Ăng-lê mới toanh vừa sáng chế gọi là “potaya” tức là “bó tay giời ạ!”.
Câu truyện sau đây là về một người “nhà” ở cái nước gọi là “nọ” ấy. Thiết tưởng do thiên hạ ai cũng sính xài đồ Mỹ, từ việc rêu rao vi phạm nhân quyền đến rao giảngxã hội dân sự , nên trong truyện cũng chơi kiểu Mỹ qua lời chua ở trang thứ nhì trong bản in đóng bìa da cứng nạp lưu chiểu tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ rằng: “tác phẩm này là thuần túy fictional tức tưởng tượng tức không có thiệt và mọi sự trùng hợp với sự việc hay con người có thật là hoàn toàn ngẫu nhiên coincidental” để khỏi bị ai đó vu khống rằng nó không phải sản phẩm của trí tưởng tượng. Truyện rằng:
Nguyên ngày xửa ngày xưa cách nay vài ngàn năm ánh sáng, tại nơi gọi là “nọ” ấy có một người tự xưng là “nhà sử học”. Do không rõ về ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ nên ít đọc sách và tại vì như thế mà tri thức hầu như vườn không nhà trống như bị trúng đòn chiến thuật tiêu thổ kháng chiến vậy.
Có dạo anh ta bảo nước anh ta là “ốc đảo” nếu không có luật tỏ tình, vì anh ta tưởng ốc đảo và hoang đảo là một, dù anh ta nói đúng ở chỗ chỉ có ở đảo hoang thì ông A-dong trần như nhộng mới không nhất thiết phải tỏ tình vì chẳng có đối thủ cạnh tranh nào bu quanh bà Ê-và thiếu vải cả.
Có lần anh ta hí ha hí hởn hí hửng hí hước khoe với mọi người rằng anh ta là một trong hai người duy nhất đã bỏ phiếu “trắng” khi cả tập thể gần 500 vị trong quốc hội của cái nước gọi là “nọ” ấy bỏ phiếu thông qua đạo luật gốc cơ bản gì đó, cái mà nước khác ở hành tinh này hay hành tinh khác ở thái dương hệ này hay thái dương hệ khác gọi là “hiến pháp”. Chả là anh ta không biết hóa ra mình đã dại dột gào to cho thiên hạ biết rằng:
1) ta đây là nhà sử học, có chân trong ban biên soạn dự thảo đạo luật cơ bản ấy rất nhiều năm qua thế mà cho đến ngày trọng đại bấm nút thông qua vẫn không có tài hùng biện và kiến thức cùng bản lĩnh để thuyết phục thành công toàn ban biên soạn chấp thuận “một” ý kiến của anh ta đối với “một” điểm nào đó trong dự thảo mà anh ta còn…chưa được yên tâm lắm;
2) ta đây là nhà sử học, tức là cùng gia đình với các vị tài ba lỗi lạc được đặc quyền sử dụng chữ “nhà”, vậy mà không biết rằng dự thảo có hàng trăm chi tiết về hàng trăm vấn đề cực kỳ quan trọng, thế mà chỉ vì một điểm chưa được yên tâm (chứ không phải điểm ấy sai) mà gạt bỏ toàn bộ hàng trăm điều khác mà bản thân đã chấp thuận trước đó;
3) ta đây là nhà sử học, tức là cùng gia đình với các vị tài ba lỗi lạc được đặc quyền sử dụng chữ “nhà”, vậy mà không biết rằng trong bất kỳ đất nước văn minh tự do dân chủ tiến bộ hiện đại nào, tất cả đều hoạt động trên cơ sở thiểu số phục tùng đa số, nghĩa là dù ngay cả có bỏ phiếu trắng hay có còn…một thoáng lo âu đi nữa thì vẫn phải nghiêm túc tuân thủ và nghiêm túc thực hiện tất cả nội dung của đạo luật gốc cơ bản đã được thông qua ấy – trong đó có cả điều mà anh ta còn “chưa được yên tâm lắm”;
4) ta đây là nhà sử học, tức là cùng gia đình với các vị tài ba lỗi lạc được đặc quyền sử dụng chữ “nhà”, vậy mà không biết rằng Sử chỉ xem trọng ý chí tập thể thí dụ như của Hội Nghị gì đó mang tên hình như là Diên Hồng ở cái nước hình như gọi là Việt Nam chứ xem một hai đại biểu quốc hội của nước ấy có ý kiến khác biệt kiểu Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống nào có ra chi dù hai vị này là gia đình hoàng tộc chứ nào phải con đỏ dân đen.
Nói đi thì phải nói lại.
Anh ta làm những việc càn quấy như thế có thể do nguyên nhân bịnh lý hoang tưởng hoang đường hoang dại và hoang…đảo.
Song, tự nhận mình bất tài vô dụng (có mồm loa có mép dãi thế mà không thể thuyết phục được bất kỳ ai trong ngần ấy năm tham gia cúc cung tận tụy miệt mài soạn thảo đạo luật gốc cơ bản), đó là cái dũng.
Hét cho nhân gian biết mình là thiểu số thấp tệ hại kỷ lục toàn thiên hà, với ngụ ý “hỡi đa số, hãy nhìn xem ta biết thân biết phận phục tùng đa số và răm rắp thực hiện theo bài bản đã được đa số biểu quyết thông qua”, ấy là cái trí nhằm lấy lòng tuyệt đại đa số nhân dân được đại diện bởi gần 500 đại biểu và tạo cảm thương nơi một vài người dân có ý giống như anh ta mà chính anh ta nằng nặc đòi làm đại diện.
Tuy bảng điện tử cho thấy có hai phiếu trắng và tin tức đã bay đi đến tận Thổ Tinh và Hải Vương Tinh, anh ta vẫn sợ có hành tinh nào đó sắp chui vào lổ đen không được cập nhật kịp thời nên anh đã tận tụy làm cái việc công khai minh bạch ngay lập tức việc chính anh đã bỏ phiếu trắng ấy, và đó là cái tâm, dù nhiều khóa trước cũng làm đại biểu quốc hội song anh ta chưa hề dám công khai minh bạch một trường hợp nhũng nhiễu dân lành nào cả.
Than ôi, người bỏ phiếu trắng mà có cái dũng uy hùng đến dường ấy, cái trí cao vời vợi đến đến dường ấy, cái tâm bự chà bá đến dường ấy, thì ắt người bỏ phiếu thuận còn có cái dũng cái trí cái tâm bự khủng đến dường nào! Quân thù mà kéo đến biên giới, chỉ cần đẩy anh ta ra đứng như phỗng thôi là đã đủ làm chúng phải ngữa mặt lên trời mà than rằng “ôi cái nước này sao mà ngay kẻ có trình độ thấp kém không thể được gọi là sử gia lại có được cái dũng cái trí cái tâm dến dường ấy thì sao mà đánh bại được do người dân cao quý hơn y cả vạn lần; thôi thì phải rút hết quân kéo hết pháo về, sai đại sứ đặc mệnh toàn quyền sang cầu mong giao hảo hiếu hòa vậy”, và nhờ thế tránh được họa binh đao, thiên hạ thái bình, vui cảnh thái hòa, đời đời an lạc.
Thế mới biết người bất tài không thể hùng biện, người thua cuộc phải ngồi chiếu dưới dành cho cực thiểu số, vẫn có thể qua việc đơn giản ủng hộ tỏ tình, giả ngây nói sai từ ngữ ốc với hoang, và giả nai để hớn hở khoe phiếu trắng, mà cũng khiến vũ trụ rộn tiếng hoan ca.
Ô hô, lành thay, thật lành thay vậy.
Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2014

Người theo công giáo vẫn được thờ cúng gia tiên !

Chúa và sự thật luôn song hành 
Tôi định sẽ tạm dừng việc đăng tải thông tin để nghỉ tết ,nhưng vì thắc mắc của một số cá nhân lười dùng google nên tôi đành đăng bài ,cũng may ,điều này cũng chính là điều liên quan đến Tết và văn hóa dân tộc .
Thưa Cha! Con có quen một người, anh ấy có đề cập đến chuyện kết hôn với con sau này, nhưng có một điều trở ngại anh ấy là người Phật Giáo. Con cũng biết đạo nào thì cũng là đạo, miễn sao mình ăn ngay ở lành với nhau. Nhưng gia đình con thì không cho con quen với người ngoại đạo. Khi con nói với anh là nhà con như vậy, thì anh nói nếu vậy thì anh sẽ theo đạo. Nhưng có một điều con thắc mắc là, khi anh ấy theo đạo rồi còn việc cúng bái thì như thế nào thưa Cha, nhà anh có lập bàn thờ cúng, các anh chị của anh ấy đã có vợ có chồng và có nhà riêng, còn mỗi anh, và anh lại là con út, nên việc cúng bái trong nhà là anh phải lo hết. Vậy không biết sau này khi chúng con kết hôn rồi thì anh ấy có thể tiếp tục cúng bái bàn thờ được nữa không thưa Cha. Kính mong Cha giúp đỡ và cho con những giải pháp tốt nhất để thuận tình gia đình hai bên. Con xin chân thành cảm ơn Cha.
Đáp:
Việc hôn nhân khác đạo không phải là một việc đơn giản, trái lại nó là một vấn đề quan trọng cần phải được suy nghĩ một cách nghiêm chỉnh để đi đến quyết định khôn ngoan. Việc "trở lại" hay theo đạo Công Giáo phải là một quyết định tự do, độc lập có suy nghĩ một cách có trách nhiệm và sáng suốt. Không phải chỉ theo đạo để lấy vợ nhưng theo đạo là tự do chấp nhận một niềm tin Công giáo và sống theo những giáo lý của đạo Công giáo một cách tích cực. Khi đã theo đạo Công giáo thì phải bỏ đạo trước bất kỳ là Tin Lành, Do Thái, hay Phật giáo. Không được cử hành các nghi thức tôn giáo theo giáo huấn của đạo cũ nữa. Nếu vì bất cứ lý do nào mà không bỏ được thì, tốt hơn, không nên vội vàng theo đạo Công giáo.
Tuy nhiên, cũng nên phân biệt việc thờ phượng và tôn kính đối với các bậc tổ tiên.
Ngày 2-10-1964, Toà Thánh ban phép cho các Đấng Bản quyền Việt Nam được áp dụng huấn dụ Plane Compertum Est (ban hành ngày 8 tháng 12 năm 1939) của Bộ Truyền Giáo liên quan đến việc tôn kính các tổ tiên trong nước Việt Nam. Ngày 14-6-1965 các Giám mục đã họp tại Dalat và ra thông cáo chi tiết về vấn đề này.
Tại Nha Trang ngày 14-11-1974, các Giám Mục thuộc Ủy Ban Giám Mục về Truyền Bá Phúc Âm đã ký tên ban hành những quyết định như sau:
1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ ấy không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch.
2. Việc đốt nhang hương, đèn nến, trên bàn thờ gia tiên, và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên, là những cử chỉ những thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.
3. Ngày giỗ cũng là ngày kỵ nhật được cúng giỗ trong gia đình theo phong tục địa phương, miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã..., và giảm thiểu canh cải những lễ vật để biểu dương đúng ý thành kính biết ơn ông bà, như dâng hoa trái hương đèn.
4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm lễ tổ, lễ gia tiên trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên, vì đó là lễ nghi tỏ lòng biết ơn hiếu kính và trình diện với ông bà.
5. Trong tang lễ, được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất, cũng như giáo hội cho đốt nến, xông hương, nghiêng mình trước thi hài người quá cố.
6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị Thành hoàng, quen gọi là Phúc thần tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc, hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải vì mê tín như đối với các yêu thần, tà thần.
Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có sự hiểu lầm, nên khéo léo giải thích cho người ta hiểu việc tôn kính tổ tiên và các vị anh hùng liệt sĩ, theo phong tục địa phương, là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc tôn giáo liên quan đến tín ngưỡng, vì chính Chúa cũng truyền phải thảo kính cha me, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa".
Hy vọng ít điều chia sẻ này có thể giúp giải quyết vấn đề liên quan đến hôn nhân và tôn giáo.
VÀI SUY NGHĨ VỀ VIỆC ÁP DỤNG QUYẾT NGHỊ CỦA CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAMVỀ LỄ NGHI TÔN KÍNH ÔNG BÀ TỔ TIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ
Thầy Phó tế GB Tô Hồng Tuấn
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, sở dĩ tín hữu Công giáo chiếm số lượng khiêm tốn trong tổng dân số Việt Nam, phần lớn là do những cản trở về phong tục, truyền thống đạo hiếu thờ cúng ông bà tổ tiên của người dân Việt Nam.
Trước sự cấp bách của việc loan báo Tin Mừng Chúa Kitô, được sự chấp thuận của Tòa thánh, các giám mục Việt Nam đã ra Quyết nghị về Lễ nghi tôn kính ông bà tổ tiên[1], và cho phổ biến thi hành trong toàn quốc, kể từ năm 1974.


Tưởng chừng như Quyết nghị của các giám mục đã mở ra một lối thoát cho việc hội nhập văn hóa để Tin Mừng được lan rộng và thấm sâu vào mọi thành phần dân chúng, nhưng thực tế, việc thi hành những quan điểm cởi mở thích nghi với truyền thống đạo hiếu vẫn không được tiến triển bao nhiêu.

1.      Một Quyết nghị rất phù hợp với truyền thống đạo hiếu
Việc tôn kính ông bà tổ tiên là hành vi vô cùng quan trọng của bậc làm con cháu. Nó không chỉ thể hiện tâm tình biết ơn của con cái đối với bậc sinh thành, nhưng còn là một bổn phận bắt buộc mà Thiên Chúa đã ra lệnh cho con người: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ” (Xh 20,12).

Bổn phận và tâm tình ấy đã được Con Thiên Chúa – Đức Giêsu - chu toàn một cách hoàn hảo, và trở thành mẫu mực cho người Kitô hữu. Dù là Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn “hằng vâng phục” bố mẹ trần thế (x.Lc 2,51). Chính vì đức vâng phục này mà Ngài ngày càng thêm khôn ngoan và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta (x.Lc 2,52). Ngài không chỉ thực hành điều răn mà Cha Ngài đã ban cho Israen, mà còn nhắc lại và buộc mọi người “phải thờ cha kính mẹ” (Mt 19,19).

Tuy không nhận được mạc khải trực tiếp từ Thiên Chúa, nhưng điều răn Thứ Tư đã được người dân Việt Nam thi hành một cách tốt đẹp từ lâu đời. Truyền thống đạo hiếu ấy được thể hiện rõ nét trong đời sống gia đình, trong họ hàng thân tộc và trong tình làng nghĩa xóm. Đặc biệt, lòng hiếu thảo, tôn kính ông bà tổ tiên trở thành nghi thức bắt buộc đối với con cháu, nhất là trong những dịp như cưới hỏi, cúng giỗ, ma chay,… Và để thực hiện những nghi thức này, trong gia đình không thể không có bàn thờ tổ tiên. Trong gia đình truyền thống Việt Nam, bàn thờ tổ tiên vừa thể hiện thái độ hiếu kính, nhớ ân sâu nghĩa nặng của các đấng bậc sinh thành, mà còn là dấu chỉ của một gia đình có nề nếp gia phong, chứ không phải là một tôn giáo.[2]
Trải qua một thời gian dài với biết bao thiệt thòi, ngăn cản việc loan báo Tin Mừng bởi quan niệm chưa đúng về thờ cúng tổ tiên, nay Giáo hội Việt Nam nhận ra được những bất cập và sai lầm của quá khứ, để ra một Quyết nghị rất hợp thời, mở ra một mùa bội thu trong cánh đồng truyền giáo cho lương dân.
  1. Quyết nghị vẫn chưa được phổ biến rộng rãi
Từ khi Quyết nghị có hiệu lực thi hành đến nay đã gần 40 năm, nhưng thực tế Quyết nghị đó vẫn chưa được áp dụng rộng rãi. Rất nhiều giáo dân trong các giáo phận vẫn chưa biết đến những thay đổi trong Quyết nghị này. Bà con lương dân muốn theo Đạo Chúa, vẫn thường bị cản trở bởi quan niệm “theo Chúa thì phải từ bỏ ông bà tổ tiên, không được lập bàn thờ và cúng giỗ ”.
Nếu như trước kia, Giáo hội xem việc lập và vái lạy bàn thờ tổ tiên, hay hành vi vái lạy người quá cố, cũng như việc tổ chức cúng giỗ là điều cấm kỵ, vì đó là việc “thờ ngẫu tượng”, thì  nay Quyết nghị lại nhìn nhận những thái độ hiếu kính đó là chính đáng và khuyến khích mọi người tham dự cách chủ động. 

Quyết nghị nói rõ: “Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất cũng như Giáo hội cho đốt nến, xông hương nghiêng mình trước thi hài người quá cố (số 5). Vậy mà người viết đã chứng kiến sự phản ứng mạnh mẽ của giáo dân khi thấy cha xứ vái lạy trước linh cữu của một người quá cố khi cử hành nghi thức an táng. Đối với họ, linh mục (và tất cả Kitô hữu) chỉ được phép vái lạy Thiên Chúa mà thôi.

Nhiều giáo dân vẫn chưa phân biệt được giữa hai khái niệm tôn thờ Thiên Chúa với việc tôn kính tổ tiên. Cho nên, họ đồng hóa việc lập bàn thờ tổ tiên trong gia đình như chính việc tôn thờ Thiên Chúa; và coi hành vi đó là một sự phạm thượng, xúc phạm đến Thiên Chúa. Sự thiếu hiểu biết và thiếu cập nhật những đổi thay trong việc hội nhập văn hóa của giáo dân, trách nhiệm trước hết phải là các cha xứ. Bởi lẽ, hội nghị các giám mục Việt Nam đã khuyến cáo Quyết nghị này phải được phổ biến và thi hành trong toàn quốc. Cha xứ là người trực tiếp hướng dẫn đời sống đức tin của giáo dân, nên ngài có nhiệm vụ giải thích và cho thi hành các điều trong Quyết nghị này.

Ngay tại điều 1 của Quyết nghị ghi rõ: “Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch”.[3] Người Việt Nam thường lấy chữ hiếu làm trọng. Nên thật cảm động nếu bàn thờ tổ tiên được đặt trang trọng dưới bàn thờ Chúa. Thật là chính đáng phải đạo khi các gia đình biết “trên tôn thờ Thiên Chúa, dưới kính nhớ tổ tiên”. Đấy cũng là dấu chỉ của một gia đình có nề nếp gia phong. Đáng tiếc là hiện nay nhiều tín hữu và lương dân vẫn chưa nghe biết quy định này.
Phần lớn người dân Việt Nam theo Phật giáo và đạo ông bà. Nên truyền thống cúng giỗ để tỏ lòng hiếu kính ông bà tổ tiên là một bổn phận bắt buộc đối với con cháu. Một số gia đình Công giáo cũng đã thích nghi với truyền thống tốt đẹp này, để vừa tỏ lòng hiếu thảo “uống nước nhớ nguồn”, vừa hòa nhập để truyền giáo cho cộng đồng các tôn giáo bạn. Tuy nhiên, đa số giáo dân vẫn coi việc cúng giỗ là hành vi “thờ ngẫu tượng”, không thể chấp nhận được. Điều này được Quyết nghị hướng dẫn rất kỹ như sau: “Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làmNgày giỗ cũng là ngày "kỵ nhật" được "cúng giỗ" trong gia đình theo phong tục địa phương miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã, và giảm thiểu cùng canh cải những lễ vật biểu dương đúng ý nghĩa thành kính biết ơn ông bà, như dâng hoa trái, hương đèn” (Số 2-3).
Những quy định trong Quyết nghị thật phù hợp với truyền thống đạo hiếu của dân tộc Việt Nam. Nhưng ngay cả giáo dân cũng không có mấy ai biết được những đổi thay ấy, huống chi là bà con lương dân và các tôn giáo khác. Rất nhiều người lương dân và cả Kitô hữu tỏ ra ngạc nhiên khi nghe nói Giáo hội Công giáo đã cho phép lập bàn thờ tổ tiên, cho phép  thắp hương cúng giỗ cũng như vái lạy bàn thờ và người quá cố.
  1. Cần áp dụng Quyết nghị trong hoạt động mục vụ
Nếu Giáo hội không coi trọng sứ mạng truyền giáo, chỉ sống và tương quan trong nội bộ cộng đồng Kitô hữu mà thôi, thì việc thích nghi với những phong tục, truyền thống hiếu kính của người Việt Nam là điều chẳng đáng quan tâm. Nhưng sứ mạng truyền giáo vốn là bản chất của Giáo hội, là lệnh truyền của Đấng Cứu Thế nên các Kitô hữu không thể thờ ơ, mà nhận lãnh trách nhiệm khi sống chung với anh em lương dân và  các tôn giáo bạn.

Mặc khác, hoạt động mục vụ tại các giáo xứ xa xôi và các vùng truyền giáo không đơn giản chút nào. Vì lẽ xã hội ngày nay đề cao quyền tự do tôn giáo, theo hoặc không theo tôn giáo nào là do quyền quyết định của chính đương sự chứ không bị ép buộc bởi bất cứ một quyền lực nào.

Thực tế cho thấy, những nơi không được hướng dẫn chu đáo hoặc mục vụ chưa tốt thì các cuộc hôn nhân bị rối gia tăng. Nhiều đôi bạn sống trong tình trạng “rối” – không cử hành Bí tích hôn phối hoặc không có phép chuẩn hôn nhân khác đạo của Đấng Bản Quyền. Khi tìm hiểu nguyên nhân, thì phần lớn là do người ta chưa nghe biết về những thay đổi của Giáo hội trong việc tôn kính ông bà tổ tiên. Điều này gây cản trở và làm nhiều người cảm thấy ái ngại khi gia nhập vào Giáo hội Công giáo.

Các khóa học giáo lý Dự tòng và Hôn nhân là điều kiện thuận lợi để người Giáo Lý Viên trình bày và giải thích cho các bạn trẻ hiểu rõ các điều trong Quyết nghị. Qua đó, những ai còn ngập ngừng hay lo ngại không muốn gia nhập Giáo hội chỉ vì “theo Đạo thì phải từ bỏ ông bà tổ tiên” không còn lý do để từ chối nữa. Dù là con một hay là cháu đích tôn, khi gia nhập vào Giáo hội Công giáo cũng không ảnh hưởng gì đến việc thờ cúng ông bà tổ tiên; trái lại, họ có điều kiện hơn để tỏ lòng hiếu kính biết ơn đấng đã sinh thành ra mình. 
Các cử hành phụng vụ như an táng, làm phép nhà, cưới hỏi,… là những dịp tốt để người cử hành biểu lộ những cử chỉ tôn kính như thắp hương vái lạy người quá cố, vái lạy bàn thờ tổ tiên. Quyết nghị quy định: “Trong hôn lễ, dâu rể được làm ‘Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên’ trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với ông bà” (Số 4). Cử chỉ ấy có sức thuyết phục rất lớn, nó “thay lời muốn nói” cho những anh em lương dân và tôn giáo bạn đến tham dự vì tình làng nghĩa xóm, vì thân quen hay vì lý do nào khác.
Những cuộc thăm viếng bà con lương dân và tôn giáo bạn vào các dịp ma chay, cúng giỗ, Tết, v.v… đều là những khoảng thời gian thuận lợi để Công giáo biểu lộ sự tán thành và hòa nhập vào truyền thống tôn kính ông bà tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Người viết bài này đã nhiều lần gây sự ngạc nhiên cho nhiều gia đình lương dân, khi đến viếng thăm họ vào dịp Tết Nguyên Đán rồi thắp hương vái lạy bàn thờ tổ tiên của gia đình. Chính lúc họ thắc mắc là lúc người Kitô hữu có cơ hội để nói cho họ biết về Giáo hội, về Thiên Chúa.

Nhiều bạn gái về làm dâu nhà chồng vốn là Phật giáo hoặc đạo ông bà, đã cảm thấy khó xử khi gia đình chồng tổ chức cúng giỗ cho người quá cố. Các cô băn khoăn không biết có được phép thắp nhang và vái lạy bàn thờ tổ tiên cùng với những người trong gia đình hay không? Các cô có được phép ăn các đồ đã cúng không? Các cô có được phép thắp hương vái lạy bàn thờ Phật không? Hàng loạt câu hỏi đưa ra nhưng nhiều người không nhận được những chỉ dẫn cụ thể từ các vị mục tử, dẫn đến sự bối rối lương tâm không đáng có cho họ.
Trong dịp Thường Huấn năm 2011 của Tỉnh Dòng Thừa Sai Đức Tin Việt Nam, Đức giám mục Giáo phận Phú Cường đã đến ban huấn từ và trả lời cho các vấn nạn vừa nêu. Mặc dù, ngài không trích Quyết nghị trên, nhưng những chỉ dẫn của ngài đều phù hợp với các quy định trong Quyết nghị. Ngài dạy: “Việc thắp nhang vái lạy bàn thờ tổ tiên cũng như dọn các món thức ăn lên bàn thờ là những dấu chỉ của lòng hiếu thảo, được phép làm chứ không có gì sai trái. Nhưng nếu những hành vi ấy được áp dụng cho bàn thờ Phật thì không được, vì khi đó là một hành vi thờ phượng chứ không đơn thuần là tỏ lòng hiếu kính”.

Kết luận
Cách nay gần 40 năm, các giám mục Việt Nam đã nhìn thấy những sai lầm và bất cập trong hoạt động truyền giáo cho bà con lương dân và các tôn giáo khác. Quyết nghị về Lễ nghi Tôn kính Ông bà tổ tiên ra đời tuy muộn nhưng vẫn luôn mang tính thời sự và cấp bách. Đáng tiếc rằng thực tế Quyết nghị đã không được phổ biến sâu rộng cho mọi thành phần dân Chúa, và nhất là không được loan báo một cách hiệu quả đến anh em lương dân và những ai đang khao khát tìm kiến Chân Lý, tìm kiếm ý nghĩa đích thực của cuộc đời.
Hy vọng rằng, các anh em Thừa Sai sẽ là những chiến sĩ với đức tin mạnh mẽ, đức cậy vững vàng và đức mến nồng nàn luôn sẵn sàng mang Tin Mừng cứu độ đến cho bất cứ ai, đặc biệt là những người đang còn do dự, còn ngập ngừng chưa muốn bước vào Hội thánh chỉ vì quan niệm “theo Đạo thì phải từ bỏ ông bà tổ tiên”.


[1] Hội đồng Giám mục Việt Nam, Quyết nghị về việc thờ kính ông bà tổ tiên,http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1440 , CN. 20/10/2011.
[2] x. Nhất Thanh – Vũ Văn Khiếu, Phong tục làng xóm VN (Đông Phương, 2005), tr.262.
[3] Hồn bạch: Tập tục xưa, trước khi có người tắt thở, người thChân lấy 7m vải trắng đặt lên ngực để đón hơi thở / linh hồn người chết vào đấy. Khi chết thì lấy tấm vải đó kết thành hình người gồm đầu, 2 tay và 2 chân; sau khi nhập quan, đặt hình nộm đó lên giường thờ và người ta tin là hồn người chết ở trong đó, gọi là hồn bạch. Ngày nay, người ta dùng di ảnh thay cho hồn bạch.