Hiển thị các bài đăng có nhãn Thoát Trung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thoát Trung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Nước mẹ Đại Pháp đã giúp dân An Nam ta "thoát Trung "như thế nào ?

Mấy tháng trời đi loanh quanh kiếm cơm không có thời gian viết blog , xin lỗi mọi người rất nhiều .
K9
Thoát Trung ?

Trong thời gian vừa qua , nhiều trí thức đã nêu bật lên việc chúng ta phải thoát trung , họ khẳng định không những cần Thoát Trung bằng kinh tế , mà phải Thoát Trung bằng văn hóa  , bằng lịch sử . Nói chung là lịch sử 4000 năm của chúng ta có bao nhiêu giá trị của Trung Hoa cần phải thoát sạch sẽ .
Và để trấn an cho những ai đang hoang mang về phong trào này , tôi xin được khẳng định đây không phải phong trào mới diễn ra mà là sự lặp lại của lịch sử hàng trăm năm trước , và trăm năm trước cha ông ta đã vượt qua "dễ dàng " thì chẳng nhẽ con cháu trí thức chúng ta lại không ai có thể vượt qua được hay sao ? Nhất là khi phong trào lại được sự ủng hộ bởi một vị tiến sĩ Hán Nôm oai danh lừng lẫy hay đúng hơn là danh chấn quần hùng , chúng ta tin tưởng vào công cuộc Thoát trung đó .
Nhân dây chúng ta cũng nên bàn lại chút chuyện cũ xem công cuộc Thoát trung trước kia chúng ta đã làm như thế nào ?

Người Pháp đã giúp chúng ta không phải học chữ Nho như thế nào ?
Đời người ta thống hận nhất Tần Thủy Hoàng chính là việc giết học trò , đốt sách vở .
Đời người ta tiếc nhất về thời Lý-Trần thịnh thế chính là vì hành động cướp bóc nhân tài , cướp phá sách vở của Nhà Minh ,dù chỉ có hơn 20 năm nhưng đã khiến cho nước Nam mất đi một lượng lớn nhân tài , lượng lớn tri thức mà cha ông tích lũy trong hàng vài trăm năm thịnh trị để đến giờ kho tàng văn học Lý-Trần tuy chỉ còn ít ỏi nhưng đã khiến người đời phải thán phục !
Ấy thế mà nước mẹ Đại Pháp của dân An Nam đã làm một việc tuy không tàn nhẫn như Tần Thủy Hoàng nhưng nguy hiểm hơn Tần Thủy Hoàng nghìn lần , không thẳng tay như nhà Minh nhưng tác hại thì mười nhà Minh cũng không thể sáng bằng : HỦY TỰ .
Sách đã đốt nhiều đến đâu ắt cũng có người giữ , nhân tài bị bắt nhiều đến đâu cũng có người còn sót nhưng chữ viết đã mất đi rồi thì sách cất giữ cũng là phường vô dụng , nhân tài nhiều cũng chỉ là kẻ lạc loài . Nước pHáp kể từ khi chính thức vững chân ở Nam Kì đến khi đặt ách thống trị nên toàn cõi nước Nam ta cũng chỉ mất mấy mươi năm , nhưng để có thể biến dân Đại Nam thành dân An Nam mít hạ đẳng phải mất gấp đôi thời gian ấy , nhưng họ đã thành công , thành công tương đối triệt để .
Nước Việt Nam là nước có văn hóa lâu đời , lịch sử hàng nghìn năm tự chủ , hàng nghìn năm phát triển , hàng nghìn năm hùng bá cõi Đông Dương đã được kết tinh trong sách vở . Những cuốn sử Việt như Đại Việt sử ký toàn thư , những bài thơ hay như Nam Quốc Sơn Hà  , những bài Bình Ngô Đại Cáo , Hịch Tướng Sĩ mà đến nay sau mấy trăm năm chúng ta đọc lại vẫn thấy máu nóng bừng chảy trong huyết mạch .
Tuy nhiên một dân tộc có lịch sử , một dân tộc có văn hóa lâu đời không phải là một thứ dân nô lệ hợp cách . Một dân tộc mà truyền thống đánh giặc được viết la liệt trong sách càng không phải thứ dân nô lệ hợp cách . Để biến con dân nước Nam ta thành dân tộc nô lê hợp cách thì phải loại bỏ sự gắn kết của chúng ta với lịch sử cha ông , trong vài chục năm sẽ quên mất cha ông ta đã làm gì , trong vài trăm năm nhất định sẽ tưởng cha ông ta là "con gà Trống " .
Và mưu sâu kế bẩn ấy đã được viết rất rõ trong Thư của Paulin Vial, Giám Đốc Nội Vụ, Súy Phủ Nam Kỳ gửi Quan Bố Sài Gòn ngày 15 tháng 1 năm 1866:
"Dès les premiers jours, on a reconnu que la langue Chinois était une barrière de plus entre nous et les indigènes; l'instruction donné par le moyen de caractères hiéroglyphiques nous échappait complètement; cette écriture ne permet que difficilement de transmetre à la population les notions diverses qui lui sont nécessaires au niveau de leur nouvelle situation politique et commercial.  Nous sommes obligés en conséquence de suivre les traditions de notre propre enseignement; c'est le seul qui puisse nous rapprocher des Annamites de la colonie en leur inculquant les principes de la civilisation européenne et en les isolant des influences hostiles de nos voisins"
Phỏng dịch : Ngôn ngữ Trung Quốc-chữ Nho là rào cản ngăn cản cho thực dân Pháp thống trị người An Nam , và cần phải thay đổi để cho người An Nam được thấm nhuần những văn hóa của phương Tây khai sáng .
Câu nói rất đường hoàng của ngài Giám đốc nội vụ cũng chỉ là bình phong cho cái gọi là hủy tự mà người Pháp sẽ làm ở nước Nam ta .

Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm).  
Từ  1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ.  
Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, dưới quy chế bảo hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn.  Kỳ thi Hương cuối cùng ở Bắc là năm Ất Mão 1915, và ở Huế năm Mậu Ngọ 1918.  Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thực sự cáo chung với khoa thi Hội chót năm Kỷ Mùi 1919 ở Huế.  Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máy quan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ.
Hành động từng bước một đó đã khiến cho việc làm của người Pháp không gặp quá nhiều chống đối từ những nhà nho Việt Nam , những người có địa vị tuyệt đối tại địa phương . Nhưng chính từ khoa thi 1919 hay việc chấm dút chữ hán năm 1932 đã khiến cho người Việt sau đó gần như không còn học chữ Nho nữa , nhưng ông Thầy Đồ hay trường tư dạy chữ Nho- nền tảng của giáo dục Việt Nam hàng ngàn năm độc lập dần mất đi địa vị của chính mình .
Chẳng thế mà chỉ vài năm sau đó , năm 1936 , một cuốn sách dạy chữ Nho đã được làm ra để cứu vớt những thứ cần cứu vớt của dân tộc , trước hết là cứu vớt phần nào cái văn hóa ngàn năm ấy .
"Phàm người Nam ta, ai cũng cần biết chữ nho, vì trong tiếng ta, trong quốc-văn, nhan-nhản những tiếng, những chữ gốc ở chữ nho."
Từ việc mất chữ , chúng ta đã "Thoát Trung " ra sao ?
Có thể nói công cuộc hủy đi chữ Nho , phổ biến chữ Quốc ngữ hay giảng dạy tiếng Pháp , người Việt ta chưa bao giờ "thoát Trung " được như lúc này . và để ghi nhớ công cuộc thoát Trung thần thánh đó , người An Nam đã thể hiện bộ mặt của một dân tộc "tự chủ " bằng cái quyền được uống nhiều rượu hơn và hút nhiều thuốc phiện hơn . Cũng để khẳng định mình là người đã Thoát Trung , những nhà Trí thức thời ấy đã tiến nên một bước yêu cầu bỏ luôn chữ Quốc ngữ , để cho những người trí thức An Nam có thể tiếp tục được tiếp thu văn minh của nước Mẹ đại Pháp được trực tiếp hơn , tinh khiết hơn , như việc dùng rượu cồn có khả năng kích thích nhanh hơn rượu lậu vậy .
  Báo Le Saigonnais ra ngày 10 tháng 12 năm 1885 có đăng một kiến nghị của thân hào nhân sĩ xin Hội Đồng Thuộc Địa can thiệp để triệt bỏ chữ quốc ngữ, coi như một thứ chữ vô giá trị.  Chữ quốc ngữ do các giáo sĩ Bồ Đào Nha chế tạo ra theo lối ghép vần của Bồ ngữ.  Người Việt biết chữ quốc ngữ không thể dùng để học chữ Pháp.  Người Pháp nếu đọc chữ quốc ngữ theo vần Pháp thì đọc sai, nhất là đối với các nhân danh và địa danh.  Do đó giới người Pháp cũng không ngớt chê bai chữ quốc ngữ là thứ chữ vô tích sự vì đã không giúp ích gì trong việc truyền bá chữ Pháp.
Đấy là những biểu hiện cụ thể và dễ thấy , còn suy đồi về đạo đức thì nhiều không thể tả , từ những câu thơ của Tú Xương : Nhà kia lỗi phép con khinh bố . mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng . Đã được phát triển nên một bước khi những nhà Trí thức ủng hộ nhiệt thành mở những nhà chứa mà ta thấy thấp thoáng hay hiện rõ trong những bài văn tả thực của Vũ Trọng Phụng . 
Trí thức nước An Nam giờ không phải so kè ai làm thơ hay hơn ai , ai viết chữ đẹp hơn ai , đạo đức ai cao nhất mà là ai đi hát nhiều hơn , ai dùng nhiều thuốc phiện hơn ...
Đấy là ở các thành thị vốn có sự "phát triển " cao hơn về "văn hóa " , ở những vùng nông thôn , thảm cảnh đã xảy ra , nhưng nó xảy ra ở một dạng khác . Khi những Nhà Nho thất thế , khi câu đối đỏ mất đi , người ta thấy thấp thoáng sự dốt nát ở khắp nơi nơi . Nếu như trước kia việc học mỗi làng đều có , thầy dù giỏi hay kém đều có tác dụng dạy chữ cho người , việc học không quá tốn kém nếu chỉ học mà không thi , thì giờ đây khi các lớp Sơ học phải lên tận huyện lị , việc học đã là thứ tốn kém khó chấp nhận được với mỗi gia đình . Chẳng thế mà chữ Quốc ngữ dù rất dễ học nhưng đến khi độc lập năm 1945 người biết chữ ít đến thảm thương .
Chúng ta nên nhận định thời điểm lịch sử này như thế nào ?
Có thể nhiều người trong đây cảm thấy tôi đã có cái nhìn quá hằn học ,phiến diện vè thời kì này , nhiều người còn có thái độ mỉa mai hơn nữa , chính vì thế sau chót tôi phải thêm cái nhận định của mình vào , phần để khách quan hơn , phần vì nhiều lí do khác nữa .
Không ai phủ nhận tác dụng to lớn của chữ Quốc ngữ đem lại , không ai có thể phủ nhận được việc đây là thứ chữ dễ học , dễ dạy , dễ nhớ và học ít mà hiểu nhiều . Có lẽ chính vì chữ quốc ngữ có quá nhiều ưu điểm như thế nên người Việt ta dù trải qua bao nhiêu năm chiến tranh tỉ lệ người biết chữ vẫn ngày càng tăng và khá hơn hẳn những nước có cùng điều kiện phát triển . 
Tuy nhiên việc mất đi chữ Nho trong nền giáo dục Việt Nam chính là thiếu sót lớn nhất cũng là sự đau lòng nhất của của chúng ta hiện nay , nhiều tác hại đã được nêu ở trên nhưng tác hại lớn nhất là việc người Việt đã mất đi truyền thống hàng ngàn năm lịch sử . Một dân tộc có văn hóa đậm bản sắc ,dân tộc đó là dân tộc thịnh vượng , người Trung Quốc có 5000 nhìn năm văn hóa và vì thế dù thế nào họ vẫn vươn lên thành cường quốc , người Mỹ lập quốc chỉ mấy trăm năm nhưng giờ đây họ đã căn nuốt văn hóa cả thế giới , số lượng sách báo tiếng Anh đã chiếm đến 6 thành sách báo của cả thế giới , điều đó cho thấy một tương lai nhất định sẽ ngày càng ổn định và địa vị cường quốc của Mỹ ngày càng bền chắc . Vậy mà lịch sử văn hóa nước ta phần nhiều chỉ biết đến trong trăm năm nay , ngoài trăm năm chẳng những người đọc không chịu tìm hiểu mà người dịch cũng lười dịch ,một sự mù mờ lịch sử , mù mờ văn hóa lan tràn đi khắp nơi và với sự "năng động " trong cách kí âm của chữ quốc ngữ , chúng ta mất đi văn hóa ngàn năm còn sót lại cũng chỉ trong ngày một ngày hai nữa thôi .

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Thoát Trung Luận-Thoát Y Luận (3) :Thoát Tàu là Thoát sư tử đá?

Khoảng hơn một tháng trước, khi thấy các “nhơn xỹ” ầm ĩ hội thảo bàn chuyện “thoát Tàu”, tôi còn đang phân vân lắm, vì chưa hiểu rõ, thoát Tàu là thoát cái gì.
Các “nhơn xỹ” thì nói như đinh đóng cột, rằng thoát Tàu, tức là thoát về “ý thức hệ”, nhưng “ý thức hệ” cuả Tàu, nó là cái gì? Bản chất có giống “ý thức hệ” của Ta không? Và nếu có giống nhau thật, thì tại sao các “nhơn xỹ” không kiến nghị để Tàu nó phải thoát Ta, mà lại cứ khăng khăng đòi Ta phải “thoát Tàu”? Lưu ý là nếu xét đến yếu tố “bản quyền”, thì “ý thức hệ” của Ta sinh ra trước Tàu vài năm, vậy Tàu nó phải “thoát Ta” thì mới là phải đạo.
Trong khi quan hệ Ta – Tàu từ trước đến nay, thì điều quan trọng nhất vẫn có đó:
Xưa, Tàu cho không, biếu không Ta đủ thứ (có lúc Tàu định “biếu” cả người, nhưng Ta không nhận) mà còn đách cấm được Ta chơi với Nga Xô,  rồi "uýnh" cho Mỹ cút, "uýnh" Ngụy nhào, "uýnh" Khờ me đỏ, sau lại "uýnh" luôn cả Tàu.
Xưa đã chả cản được ta "uýnh", và nay thì, làm cách nào để Tàu có thể cấm được Ta thực hiện “mong muốn làm bạn với tất cả các nước”, như Ta đã tuyên bố công khai với bàn dân thiên hạ, ngay trước mũi Tàu đấy thôi. (Sáng nay (15/9/2014), nghe tin radio, quả vải, quả nhãn Ta rồi đây sẽ sang “làm bạn” với dân Mỹ).
Do chả thấy vị “nhơn xỹ” nào đòi Tàu thoát Ta về “ý thức hệ”, tôi buộc phải đi đến kết luận rằng, thực chất các “nhơn xỹ” của chúng ta chỉ nhăm nhăm đòi “Ta thoát Ta”. Nhưng ngoài mồm các ông ấy cứ hô toáng lên là “thoát Tàu”.
Cho đến hôm nay đọc báo mới biết, hóa ra các nhà làm Văn Hóa nước nhà mới thực sự là người muốn thoát Tàu, thật đơn giản, bằng cách “bài trừ” những con sư tử đá.
Gì chứ “thoát Tàu” kiểu này thì tôi đồng ý ngay, nhưng vì lý do gì, để nói sau.
Quả vậy, một chiến dịch bài trừ “linh vật ngoại lai” ra khỏi các đền chùa, di tích, công sở, do Bộ Văn hóa đề xuất vừa được phát động và hưởng ứng rầm rộ.
Trong công văn của Bộ Văn Hóa, “linh vật ngoại lai” được chỉ đích danh là “sư tử đá” và  “một số vật phẩm khác”.
Cụ thể, thì đó là những con sư tử đá, tạc theo lối Tàu, ví dụ như hai chú này, đang canh cổng đình Yên Phụ:

"Linh vật ngoại lai": Sư tử đá tại đình Yên Phụ - Hà Nội
PGS Trần Lâm Biền, ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia ví von " Đem hai tên lính ngoại quốc canh cửa nhà mình, liệu có được yên ổn?". 
Trước hết, phải nói là tôi không thấy ví von của PGS Trần Lâm Biền có tính thuyết phục chút nào, vì chỉ có những anh “có điều kiện” mới có thể thuê người nước ngoài canh cửa. Sau đó, nếu bàn đến chuyện liệu có được “yên ổn” với “lính ngoại quốc” thì mỗi ngày, có hàng trăm chuyến bay Việt do cơ trưởng là người nước ngoài lái và 100% hành khách vẫn giao trọn sinh mạng cho các “tên lính ngoại quốc” đấy thôi, sao không thấy ai thắc mắc.
Hơn nữa, những con sư tử đá ấy cũng không thể gọi là “lính ngoại quốc” vì  chúng được làm từ đá Đà Nẵng, Thanh Hóa hay Ninh Bình cả, lại do chính tay thợ Ta tạo tác. Tức là chỉ có mỗi cái hình dáng bên ngoài, lớp vỏ, là “theo kiểu Tàu”, thì có khác gì Ta mặc quần “phăng”, áo “phông” giặt bằng “xà bông”, nghĩa là toàn thứ “ngoại lai” cả, mà thiên hạ có ai gọi Ta là Tây đâu.
Xét thực chất, thì ở Tàu, con sư tử cũng không phải là một sinh vật bản địa, chính người Tàu cũng du nhập nó, mới thành ra con sư tử đá kiểu Tàu.
Thôi thì khi đã quyết dẹp bỏ các “linh vật ngoại lai” thì phải dùng các linh vật thuần Ta để thay thế. Linh vật Ta là thế nào, đại khái các nhà nghiên cứu cũng lúng túng, hiện nay tạm thống nhất lấy con Nghê để thay thế.
Ở Ta, ngoài con Nghê thì còn có mấy con khác được gọi là “linh vật”, từ voi đá, ngựa đá, chó đá, đến những con chưa biết đặt tên gì, nhưng phổ biến nhất vẫn là con Nghê. Con Nghê có mặt từ lan can cho đến cổng làng, cổng chùa, dinh thự, lăng tẩm, đền miếu với đủ loại hình thức (tượng tròn, phù điêu) và chất liệu (vữa vôi, đá, đồng, gỗ).
Con Nghê, thì cũng không phải là linh vật 100% thuần Việt, vì ở Tàu con sư tử đá có lúc còn được gọi là con Toan Nghê. Nhưng con Nghê ở ta trông vừa nhang nhác con sư tử lại vừa giống con cún con nên khi dịch ra tiếng Anh, các nhà chuyên môn ít khi dịch là lion mà hay dịch là fo dog,khổ thay, chữ Nghê trong tiếng Hán cũng gồm bộ Cẩu (chó) với chữ Nhi (trẻ con) mà thành.
Ta cũng chả có huyền thoại hay truyền thuyết gì về con Nghê, chỉ biết những con Nghê đã có mặt ở các di tích từ hàng nhiều trăm năm trước khi con “sư tử đá kiểu Tàu” đổ bộ vào di tích, đền chùa và công sở như ngày nay.
Nghê đá, đền vua Đinh, Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình, thế kỷ 17

Nghê đá, lăng Ngọ tộc, Hiệp Hòa, Bắc Giang, thế kỷ 17

Nghê đá, đền Gióng, Gia Lâm, Hà nội, thế kỷ 17
Nghê đá, cửa Hiển Nhân, Đại nội, Huế, thế kỷ 19
Và đây là hai “linh vật thuần Việt” khác, rất đẹp, nhưng giới chuyên môn cũng chưa biết đặt tên là gì.
Bây giờ, ngắm Nghê, rồi so con Nghê với con sư tử Tàu, thì thấy rõ:
Con Nghê đầu to, chi trước mảnh dẻ hơn chi sau, thân trơn, có khi có vảy, dáng vẻ vẻ hiền lành. Mắt nhỏ vừa phải, miệng có khi ngậm khi há nhưng không phô ra hàm răng nhọn như để đe dọa. Trạng thái biểu cảm khá đa dạng, từ vui tươi (nơi cổng đình, cổng làng), nghiêm trang, cung kính (đền miếu) đến buồn rầu (nếu ở lăng tẩm).
So với con Nghê thì con “sư tử đá kiểu Tàu” có ít tính cách điệu hơn, nghĩa là thiên về tả thực dáng vẻ hung dữ, trấn áp với cơ bắp, móng vuốt, răng nanh và vẻ mặt.
Ví dụ như thế này:
Xét về độ oai phong, nghê không thể sánh được sư tử, ngược lại về sự thân thiện, thì Nghê gần gũi con người và cảnh quan hơn.
Về cách bố trí trên mặt bằng thì ở Ta, con Nghê và các linh vật khác thường được xếp theo vị trí “chầu”, như nghênh đón, tức là được đặt cân xứng hai bên lối đi, hướng nhìn vuông góc với trục giao thông (sân, đường). Còn ở Tàu, thì đôi sư tử đá được bố trí theo tư thế “trấn”, có cái nhìn uy hiếp và trực diện vào khách dọc theo trục đường.
Như đã nói ở trên, con Nghê cũng không hẳn là thuần Việt, vậy tại sao tôi lại đồng ý với việc thay thế “sư tử đá kiểu Tàu”?
Đơn giản, xem ảnh thì biết, chỉ vì tôi thấy con “Nghê” đa dạng, hiền lành và nhất là đẹp hơn con “sư tử Tàu” hung hăng và đơn điệu. Chỉ thế thôi, chứ không hề mơ mộng hão huyền thoát nọ thoát kia.
Nhưng, ở các di tích cổ, đền, chùa, đình, miếu, dùng Nghê, Sấu, Voi, Ngựa đá... thì được, chứ ở các nơi công sở, thay con sư tử đá bằng con Nghê, con Sấu, thì buồn cười lắm. Hay là ta cứ đặt quách con chó đá ở công sở, có khi lại hay các Ngài ạ, vì sẽ đỡ "trộm".
Thực tình, khi viết entry này, tôi vẫn hy vọng là các nhà làm công tác Văn Hóa nước ta không thiếu tự tin tới mức phải tiên phong “thoát Tàu”, bằng cách mở chiến dịch “bài trừ linh vật ngoại lai”, mà tội đồ chính là những con “sư tử đá ”, vốn được làm từ đá Việt và do chính thợ Việt tạo tác, chỉ tiếc, với hình dáng “kiểu Tàu”.
Có chút khôi hài là, để thoát khỏi những con “sư tử đá kiểu Tàu” vô tri vô giác, thì các nhà Văn Hóa lại dùng 4 chữ thuần Tàu là “Linh Vật Ngoại Lai”, (nếu cộng thêm 2 chữ “bài trừ” nữa thì là 6, cộng thêm 2 chữ “chiến dịch” nữa thì thành 8 chữ thuần Tàu...), thành ra các Ngài chưa “thoát” được chỗ nọ thì đã lại “nhập” chỗ kia.
Vì thế, tôi đâm lo xa rằng, trong khi loay hoay thoát nọ thoát kia theo cái cách đó, thì các nhà Văn hóa xứ ta lại không thoát được cái phép "thắng lợi tinh thần" của các chú AQ chính hiệu.
Và binh luận của cá nhân tôi :Tiếp tục thanh trừng  ?
Nghinh đón cơ hội ?

Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

Thoát Trung Luận - Thoát Y luận (2)

Một người bạn của tôi đã bình luận về bài báo trên Báo Giáo Dục như sau :
Chữ Hán hay bản thân chữ Quốc Ngữ mà chúng ta đang viết ngày nay, về căn bản không phải là của người Việt sáng tạo nên. Chữ Hán hay Việt La-tinh đều là công cụ ban đầu mà cả Trung Quốc và phương Tây muốn đưa vào Việt Nam, nhằm cai trị Việt Nam. Thế nên, xét cho công bằng, đòi hỏi tẩy chay chữ Hán thì có nên tẩy chay luôn Việt La-tinh?
Nói chữ Hán không thể hiện hết tiếng Việt, chữ Nôm cũng được tạo ra để thể hiện đầy đủ cái đẹp của tiếng Việt đấy. Chữ Việt La-tinh dễ học dễ thuộc, nhưng nó cũng đâu thể hiện đầy đủ cái nghĩa mà mỗi từ được viết, nhất là đồng âm khác nghĩa. Xét thấy bộ chữ nào cũng có cái hay cái dở của nó, lựa chọn là quá trình của lịch sử, thế nhưng cần phải có cái cách nhìn nhận công bằng và khoan dung.
Người Pháp đã chủ trương loại bỏ Hán Nôm trong trường học An Nam, nhằm biến những đứa trẻ An Nam thành người ngoại quốc trên chính đất nước mình, có lẽ họ đã thành công. Kho tàng sách vở ít nhất 500 năm coi như chẳng còn có giá trị.
Một người bạn khác :
Đến Nơm quốc sơn hà văn phạm cũng sặc mùi chữ hớn. Thực chất bài văn Nơm quốc sơn hà là viết cho bọn Tống triều nó nghe, chửi thẳng vào mặt quân xâm lược...
Không biết trước thời bị con cháu ông Triệu Đà sát nhập quốc thổ vào đất nhà Hán thì dân ta có chữ viết hay chưa chớ từ thời Hán đến cuối thời Nguyễn Triều các chính quyền phong kiến vẫn sài Hán văn làm chính thống. Vì các triều đại phong kiến sử dụng Hán văn là chính thống nên hầu hết các áng thiên cổ hùng văn đều viết bằng văn tự hán văn.

Cũng phải nói thêm Hán văn ngoài các văn tự cổ theo kiểu giáp cốt và đặc trưng từng tộc người Hán, tạng, mãn,... thì ngày nay với việc phân chia Trung hoa dân quốc và đại lục lại có thêm hai dòng phồn thể (truyền thống) và canh tân giản thể (chữ do Mao Trạch đông phê duyệt)... Hầu hết các chữ viết trong đình đền miếu mạo, trong các nhà thờ, gia phả, cuốn cổ văn ở Việt Nam là viết theo lối truyền thống phồn thể.
Mặc dù, phải văn mượn chử viết của nước ngoài nhưng hán văn với vai trò của nó cũng không khác thứ chữ cũng được vay mượn là chử quốc ngữ cũng chỉ là công cụ để đưa suy nghĩ tư tưởng của tiền nhân, của các danh nhân nước ta truyền lại cho con cháu... Như vậy, biết và thông thạo chữ Hán phồn thể là cơ sở, tiền đề quan trọng để con cháu chúng ta hiểu hơn tiền nhân, tiến đến việc khảo cứu đưa ra được các đặc trưng văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc vùi sâu trong các áng văn phạm hán văn.
Một ngày kia, khi người ta theo một luận thuyết cho rằng sử dụng chữ Hán là nô dịch văn hóa, đưa ra những hạn chế cấm đoán người ta nghiên cứu về văn hóa đời sống con người xưa thông qua các văn tự cổ. Lại có những thằng thần kinh đến văn miếu, đến tự viện cạo bỏ các tích thư cổ mang chữ Hán, đốt hết văn bia... lịch sử cách mệnh văn hóa Trung quốc được tái diễn thì độ lùi văn minh quốc gia dân tộc có thể biến những con người Việt Nam thành những kẻ mất gốc ngay chính quê hương của mình. Bởi vì, những cuốn gia phả cổ chữ Hán bị đám trẻ trâu xé nát vì không biết đọc, anh em chia li vì không biết tổ họ, ra đường đánh nhau chí chết vì không biết dòng tộc tình không biết lịch sử tổ tông ông bà của chúng...
Từ Nam quốc sơn hà đến việc sử dụng chử Hán là cả vấn đề quan trọng. Nhưng thật kỳ lạ khi có cái đề tài vấn đề nô dịch và việc sử dụng chử Hán, trong khi hiện nay đa phần dân số giới trẻ chỉ quan tâm đến tiếng Anh, sự mọc lên như nấm các trường học anh ngữ quốc tế... Các thánh họ không thấy lấn cấn cảm thấy sự nô dịch văn hóa Tây Âu Anh Mỹ mà vẫn cứ chăm chăm sĩ vã một thứ nô dịch thuộc về quá khứ của hơn ngàn năm bắc thuộc thuở trước. Trong ba quốc gia từ lệ thuộc vào chữ kiểu Tàu thì Hàn Quốc và Nhật bản vẫn sử dụng và dạy chữ Hán phồn thể có que có gậy đàng hoàng chớ không phải phiên âm nị nộ kiểu mấy anh tiều quảng đông lói chuyện phiếm với nhao ở chợ bến thành :)))

Bài viết trên báo Giáo Dục 
Người viết rất trân trọng ý kiến của tác giả Thanh Phong trong bài: Cần nhìn nhận về hệ thống tư liệu chữ Hán ở nước ta như thế nào?.  Một vài nhận định chừng mực, đúng đắn của tác giả xin không bình luận thêm, bạn đọc của Giáo dục Việt Nam sẽ tự cảm nhận và đánh giá.
Bài viết này xin trao đổi cùng tác giả đôi điều, ngõ hầu đi đến một sự thống nhất trong đa dạng về cái mà chúng ta gọi là “văn hóa ngoại lai” cùng một số nhận định đã nêu trong bài viết.
Trước tác giả Thanh Phong, chưa thấy các nhà nghiên cứu công bố một công trình nào kết luận rằng “khoảng đầu Công nguyên  nước ta chưa có một hệ thống chữ viết phục vụ cho nhu cầu ghi chép của người dân”. Một số học giả Việt Nam và nước ngoài như Victor Goloubev, Phillipe Le Failler, Lê Trọng Khánh… khi nghiên cứu bãi đá cổ Sa Pa  nằm tại thung lũng Mường Hoa huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy những văn tự cổ khắc trên đá. Sự tương đồng giữa các nét vẽ trên đá Sa Pa với nét vẽ trên trống và các đồ gia dụng bằng đồng Đông Sơn đã đưa đến nhận định rằng hình vẽ và chữ viết trên đá này có tuổi đời khoảng 2.500 năm.
Chữ khắc trên đá cổ Sa Pa
Điều này có nghĩa là trước cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng khoảng 500 năm, người Việt cổ đã biết dùng hình ảnh,  chữ viết  để ghi lại các hiện tượng xã hội, thiên nhiên quanh mình. 
Sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, Mã Viện đã cho tịch thu trống đồng và dụng cụ bằng đồng của người Việt đúc lên chiếc cột đồng chôn ở biên giới Giao Chỉ và nhà Hán (nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc). Bắt đầu từ thời điểm này những kẻ xâm lược ngoại bang tìm đủ cách đồng hóa người Việt không chỉ về phương diện nhân chủng học mà còn về văn hóa. Thời kỳ bắc thuộc 1.000 năm là quá đủ để quân xâm lược tiêu diệt chữ viết của người Việt cổ.
Tiếp nhận chữ Hán, xem nó là văn tự chính thống từ thời Mã Viện là điều mà giới cầm quyền, trí thức Việt buộc phải tuân theo vì người Việt không còn chữ viết, nhiều trăm năm sau việc sử dụng chữ Hán mới được xem như một sự mặc định. Mặc dù vậy tiếng nói của người Việt vẫn không phải là tiếng Hán, đó là tiếng nói tồn tại đến ngày nay, tuy đôi khi có pha trộn các từ Hán Việt. 
Đại bộ phận cư dân, những người lao động không biết chữ Hán và không nói tiếng Hán do vậy không thể kết luận chữ Hán  “phục vụ đúng mực cho các nhu cầu giao tiếp trong xã hội”, nói chính xác đây chỉ là giao tiếp của tầng lớp quan lại, sĩ phu chứ không phải của người dân.
(GDVN) - Bản thân chữ Hán không có tội, nó chỉ là một loại công cụ của văn hóa, mà đã là công cụ thì hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng.
Nếu có điều kiện tác giả Thanh Phong nên đọc Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, trong đó có nhận định: “Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt, thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán.
Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI). Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh".
“Bản thân chữ Hán không có tội, nó chỉ là một loại công cụ của văn hóa, mà đã là công cụ thì hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng”. Lập luận này đôi khi trở thành một công cụ ngụy biện.
Các loại vũ khí hạt nhân, hóa học… cũng chỉ là công cụ của chiến tranh, bản thân chúng đều vô tri vô giác nhưng vẫn bị thế giới nghiêm cấm sử dụng, thậm chí còn bị nghiêm cấm tàng trữ,  phổ biến. Vì sao, vì không thể lường trước được thảm họa đến với nhân loại nếu các loại vũ khí này rơi vào tay bọn khủng bố. Tương tự, vài chục, vài trăm sau nếu một lúc nào đó những kẻ khùng bên kia biên giới nói rằng Bạch Long Vỹ là của họ vì toàn bộ chữ viết trong chùa chiền ở đó là chữ Hán thì điều gì sẽ xảy ra?
Đánh giá chữ Hán về mặt học thuật đương nhiên cần sự khách quan, công bằng, cần thấy tác dụng của nó trong giai đoạn lịch sử trước đây của dân tộc, song người Việt, nhất là giới trí thức có nhiệm vụ nhắc nhở người dân về thảm họa của sự ngây thơ chính trị, hãy ghi nhớ câu nói nổi tiếng của  Giulius  Phuxích  “Nhân loại hỡi ! Tôi yêu tất cả mọi người. Hãy cảnh giác!".
Là một giảng viên đại học, không biết tác giả Thanh Phong có cân nhắc trước khi viết những dòng này : “Sau 1945, người Việt không còn học tập chữ Hán nữa, nền giáo dục Việt đã có chữ quốc ngữ thay thế, dòng mạch truyền tải văn hóa truyền thống bị đứt gãy, không còn liên tục giống như các nước Đông Á khác (Nhật Bản, Hàn Quốc) ".
Dòng mạch truyền tải văn hóa của người Việt chưa bao giờ bị đứt gãy, bởi lẽ dù không biết chữ Hán, người Việt vẫn có văn hóa dân gian, vẫn lưu truyền các sự tích từ đời này qua đời khác. Không ít trường hợp dựa vào truyền thuyết và tư liệu truyền miệng mà các nhà khoa học tìm ra manh mối một số sự kiện lịch sử.  
Nhận định của tác giả Thanh Phong không chỉ thiếu luận cứ khoa học mà còn ẩn chứa một suy luận nguy hiểm, rằng muốn truyền tải văn hóa truyền thống thì phải sử dụng chữ Hán, còn nếu dùng chữ quốc ngữ thì sự truyền tải sẽ đứt gãy, không liên tục?
Vì không am hiểu Hán-Nôm nên có thể ý kiến của người viết có chỗ chưa thấu đáo, hy vọng Hội đồng Khoa học – Đào tạo Đại học An Giang, với tư cách là đơn vị chịu trách nhiệm về mặt học thuật của nhà trường  góp thêm tiếng nói để cùng đi đến một nhận thức chung về vấn đề này.
Người viết có điều băn khoăn không biết tác giả Thanh Phong có nên cân nhắc khi cho rằng : “hệ thống chữ quốc ngữ tiện lợi dễ học dễ nhớ có thể chuyển tải hầu hết mọi nhu cầu giao tiếp trong cuộc sống“.
Chữ quốc ngữ ngày nay, bao gồm một số từ nước ngoài đã được Việt hóa có thể truyền tải toàn bộ (xin nhấn mạnh chữ “toàn bộ”) mọi nhu cầu giao tiếp trong cuộc sống chứ không phải là hầu hết như  tác giả Thanh Phong nhầm lẫn. Tất cả các văn kiện chính trị như hiến pháp, văn bản luật, tác phẩm văn học, sách giáo khoa từ tiểu học đến đại học, luận án thạc sĩ, tiến sĩ… đều viết bằng chữ quốc ngữ mà không gặp bất kỳ trở ngại nào.
Phải chăng cái ý tưởng ẩn sâu của tác giả sau một số nhận định có vẻ khoa học, khách quan là định hướng người đọc đến một kết luận có vẻ vô tư: “Việc thiết lập chùa chiền, tạo dựng văn bia, liễn đối bằng chữ Hán là một sự tiếp nối truyền thống, điều đó chẳng có gì sai, chẳng có gì là nô dịch văn hóa ở đây cả“.
Theo tác giả Thanh Phong:  “thiết lập chùa chiền, tạo dựng văn bia, liễn đối bằng chữ Hán  là một sự tiếp nối truyền thống”, ẩn ý ở đây là nói về các công trình mới xây dựng (thì mới có sự tiếp nối truyền thống) chứ không phải các công trình trùng tu, tôn tạo. Nếu ai đó xây mới các công trình mà sử dụng chữ Hán thì  “chẳng có gì sai, chẳng có gì là nô dịch văn hóa ở đây cả”.
Còn nếu các công trình “thiết lập” mới mà dùng chữ quốc ngữ thì sẽ không thể tiếp nối truyền thống, sẽ bị “mất gốc”?
Tác giả Thanh Phong dường như muốn chuyển tải đến bạn đọc một lời khuyên, rằng chữ quốc ngữ chưa có khả năng chuyển tải toàn bộ mọi giao tiếp, trong khi sử dụng chữ Hán vừa “chẳng có gì sai” vừa bảo đảm “sự tiếp nối truyền thống” nên  các công trình xây mới cứ sử dụng chữ Hán mà không sợ gì  “nô dịch văn hóa” của nước ngoài. Còn nếu ai đó dùng chữ quốc ngữ trong công trình xây mới thì hãy thận trọng vì chữ quốc ngữ chỉ truyền tải được “hầu hết” chứ không phải toàn bộ văn hóa Việt, thêm nữa dùng chữ quốc ngữ là mạch truyền thống sẽ bị gián đoạn nên sẽ trở thành “mất gốc”?
Vì tác giả Thanh Phong là giảng viên nên xin nêu để bạn biết một vài quy định của ngành Giáo dục, Khoản 1 Điều 7 Luật Giáo dục 2005: “Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác“. Điều 10 Luật giáo dục đại học 2012: “Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong cơ sở giáo dục đại học”. Tất nhiên còn một số quy định khác về tiếng Việt trong các lĩnh vực quảng cáo, văn hóa, xã hội mà người viết đã trình bày trong bài Thưa ông Bộ trưởng Văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? nên xin không đề cập ở đây.
Để tránh dài dòng, xin nêu nhận xét về câu kết của tác giả Thanh Phong “Điều quan trọng là chúng ta cần có bản lĩnh tự thân, không hèn yếu, đứng vững trên lập trường dân tộc để tiếp thu văn hóa nhân loại nói chung, chữ Hán nói riêng“.
Tiếp thu văn hóa nhân loại là một chuyện, tiếp thu  chữ Hán (hay tiếng Hán) lại là chuyện khác. Với một dân tộc cụ thể, chẳng hạn người Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hán… chỉ là ngoại ngữ  mà con người trong xã hội toàn cầu cần biết để giao tiếp với nhau, việc học tập ngoại ngữ nào là tùy theo nhu cầu của mỗi cá thể. Trẻ con ngay khi mới chập chững biết đi đã có thể học ngoại ngữ, việc này không liên quan gì đến chuyện “hèn yếu“ hay “lập trường dân tộc" cả. Chỉ những ai thông qua truyền dạy ngoại ngữ  để lồng vào đó sự tuyên truyền, cổ vũ cho văn hóa ngoại lai mới cần có “lập trường dân tộc”. Không thể vì một chút hiểu biết Hán Nôm mà vội kết luận rằng thiếu nó thì  “dòng mạch truyền tải văn hóa truyền thống bị đứt gãy”.
Phát biểu chính kiến cá nhân là quyền của mỗi người, nhưng nhất thiết nên tránh việc lồng ghép những quan điểm chưa được kiểm chứng vào bài giảng chuyên môn cho sinh viên, càng không được phép đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, điều này những người đứng trên bục giảng không được phép quên. 
Có lẽ tác giả Nguyễn Thanh Phong, Đại học An Giang cũng đồng quan điểm với người viết./.
Xuân Dương
Bình để tạm đến chiều viết tiếp =)

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Tâm lý cuồng Mỹ


Nói về cái ngu (ngu chỉnh chủ và ngu cố tình ) của mấy anh cuồng Mỹ thì nói nửa ngày cũng không hết. 
Thực sự Việt Nam chả phải đồng minh hay thuộc địa của Trung Quốc kiểu như EU Hàn Nhật , Úc , new zeland Canada nhất nhất vâng lời Mỹ tất tần tật. Nhiều người cố gân cổ mà cãi EU+ lâu la đâu phải thuộc địa Mỹ. Cãi kiểu này cãi chày cãi cối lấy được. 
Nga có động chạm gì Bỉ , Đức ....mà mấy nước này hứng tình cấm vận Nga ? Cấm vận giải trí à ? Thiên Triều Mỹ không ra lệnh EU có điên mà cấm vận Kinh tế với Nga và chịu kha khá thiệt hại không ? Đời không ai ngu tự mua dây buộc mình cả. 
Saddam Hussen chả bao giờ nghĩ đến chuyện xâm lược ....Hàn Quốc , Philiipin Canada, Úc , Tây Ban Nha ....chứ đừng nói Xâm lược Mỹ. Ấy vậy mà các nước kia vâng lênh thiên triều gởi quân tới Iraq. Treo cổ ông chủ nhà lên rồi lục soát tận mấy năm , Thiên Triều mới nói " em nhầm , IRaq không có vũ khí hủy diệt". Dân chúng các nước tham gia tiệc máu cùng Thiên Triều có thấy xấu hổ không ? 
Thiên Triều công nhận chính quyền diệt chủng Polpot thì các nước có nền văn minh ngàn năm như Anh Pháp , Tây Ban nha ....cũng phải công nhận.
Lưu ý : quần chúng các nền văn minh này không ăn thịt chó vì lý do "nhân đạo" nhưng lại xem dân Campuchia không bằng một con chó. Các bạn nghĩ dân mấy nước này toàn lũ chó má hết sao ? Không , chỉ là nhà cầm quyền vâng mệnh thiên triều đến nỗi không dám mở mồm cất tiếng nói của lương tri. 
Thiên Triều Mỹ Chống ai , đánh ai hay nâng bi ai thì đám thuộc quốc răm rắp làm theo bất chấp sĩ diện, lương tri cũng như nồi cơm hay máu con em mình. 
Rõ ràng Việt Nam chưa bao giờ phải vâng mệnh Trung Quốc trong tất cả các vấn đề mà Trung Quốc gặp phải. Trung Quốc xích mích với Ấn Độ , Nhật Bản , Hàn Quốc , Philippin , Nhật ....chứ chả hiền lành yên phận gì. 
Thế giới có ai sắp choảng nhau là Bộ Ngoại giao Việt Nam luôn "lấy làm quan ngại ..... Mong muốn các bên kiềm chế giải quyết bằng hội đàm ". Từ khi biết coi tivi, nghe đài , hơn 20 năm nay tôi đã thuộc lòng quan điểm ngoại giao không xía mũi vào chuyện người khác của Nhà nước Việt Nam. 
Về Quốc Phòng , Việt Nam chả gia nhập khối này khối nọ. Trang bị quân đội thế nào , mua sắm vũ khí gì , mua của ai là việc riêng của Việt Nam. Trung Quốc không (dám ) ý kiến ý cò gì cả. Việt Nam làm ăn kinh tế giao lưu giao thông với nước nào Trung Quốc cũng không thể can thiệp. 
Việt Nam có kim ngạch thương mại hàng trăm tỉ USD với Trung Quốc , điều này được các nhơn sĩ chấy thức , trẻ trâu bám vào la liếm "Việt Nam phụ thuộc Trung Quốc". Mới nghe qua thấy có lý ghê , nhưng cái lý này chỉ gạt được con nit. Một nền kinh tế khổng lồ như Trung Quốc có chung đường biên giới trong tình trạng hòa bình - bang giao ( ít nhất trong 24 năm ) thì kim ngạch buôn bán to cỡ đó có gì lạ ? Gọi là phụ thuộc hay lệ thuộc không hoàn toàn đúng. Bởi vì Trung Quốc không thể cúp cầu dao điện hay đóng van khí đốt - dầu lửa là Việt Nam ....tối thui. Trung Quốc không thể rút vốn một cái là hệ thống ngân hàng của Việt Nam sập cái một hay giá bất động sản rơi tự do. Đúng là mua bán với Trung Quốc nhiều thật nhưng đó chưa phải là con dao Trung Quốc nắm đằng chuôi để dọa nạt , ép Việt Nam vâng lời họ. Kinh tế Trung Quốc là con dao họ nắm chuôi thật thì vấn đề tranh chấp biển - đảo hay đóng quân tại Cam Ranh đã được giải quyết cái rẹt trong một cuộc nhậu rồi. Tất nhiên , một nền kinh tế vững chắc , toàn diện là phải mua bán làm ăn với rất nhiều thị trường , không thể "xếp tất cả trứng vào một giỏ" bài học Cá Ba Sa và Tôm sú vẫn còn nóng hổi : Mỹ giở quẻ một cái hàng triệu Nông dân Nam bộ cầm nhà , bán ao, nợ đầy đầu. 
Túm lại cái luận điệu "Việt Nam là một tỉnh Trung Quốc" hay "sân sau Trung Quốc" là nói cho sướng mồm , nói cho thõa cái ác cảm với Đảng Cộng Sản Việt Nam và để tư duy cuồng Mỹ được tự do bay cao chứ chẳng có bằng chứng cụ thể nào. Việt Nam độc lập thực sự với Trung Quốc thì gào rú "thoát Háng , Thoát Tàu" kiểu gì?. Cái hội thảo "Thót Trung" to vật vã của anh Chu Hảo chẳng qua là mớ giấy lộn với hàng đống thứ ngớ ngẩn láo toét , dân mạng chả xem vào đâu. Tiếc cho anh Chu Hảo là cái hội thảo này diễn ra sau khi Trung Quốc rút giàn khoan HD981 về rồi. Không thì nước bọt của nhơn sĩ văng khắp năm châu bốn bể. 
Trung Quốc chả tốt đẹp gì , mưu mô độc bá Biển Đông họ chả giấu diếm. Nhưng ít nhất tại thời điểm này hai nước vẫn chưa bên bờ vực chiến tranh, hiện trạng kiểm soát các vùng biển đảo của Việt Nam vẫn giữ nguyên. Việt Nam cũng chả phải sân sau hay đồng minh của Trung Quốc nên những kẻ gào rú "thoát Trung" thực chất là muốn kích động tâm lý bài Hoa của người dân , dẫn đến các hành vi quá khích ( như thằng cha Sam- ray bên Cam xúi dân Cam chống Việt Nam). Tâm lý bài Hoa và quá khích cốt chỉ dẫn đến viễn cảnh hai nước bụp nhau chứ chả giải quyết được cái gì. Cái mà họ muốn đúng là như thế : Việt Trung - bụp nhau , Mỹ nhảy vào kiếm tí chút. 
Tâm lý không ưa Trung Quốc của người Việt Nam là bình thường dễ hiểu. Tuy nhiên có những thành phần "cuồng chống Tàu" hết sức kỳ quặc. Đại khái họ ghét nhà nào là ghét luôn khách khứa ra vào nhà đó, ghét cả thằng bỏ gaz, thằng bán gạo hay bà bán nước mắm cho nhà ấy. Người Việt mình nhiều người thấy Nga bắt tay với Trung Quốc là khó chịu nói thật với các bạn là tôi thấy rất giống mấy bà ở quê. 
Cứ hàng xóm kèn cựa, ghét nhau mà ai qua chơi là thành ra ghét luôn cả người đó. Nhưng thấy bà nào túm năm tụm bảy cùng mình để rủa cái nhà hàng xóm "chết tiệt" là tay bắt mặt mừng, là thân thiết này nọ khác kia mà không biết rằng sẽ có ngày cái đám miệng lưỡi ấy nó cầm dao đâm sau lưng mà không biết. 
Bạn thấy phong cách "ngoại giao lúa nước" của người Việt Nam mình qua ví dụ thực tế đó chưa?
Trung Quốc hay Nga hay Mỹ thì nước nào cũng có mặt này mặt kia và bạn nghĩ người Việt mình không vậy hay sao? Quan hệ với nhau ở đời vốn không qua nổi qui luật tự nhiên: Con bò nó ở lại một cánh đồng vì có cỏ cho nó ăn. Hạn hán, lụt lội, cỏ hết thì nó cũng tìm đi cánh đồng khác chứ ở đó mà chết đói hay sao? 
Cái nước Việt Nam bé tẹo bằng con kiến, rừng vàng biển bạc ở đâu chẳng thấy chứ trừ khi nào nước biển trở thành một nguồn tài nguyên làm giàu thì may ra nước Việt Nam mới có thể được gọi tạm là giàu tài nguyên. Còn thời buổi này không vàng thì kim cương, không khí đốt thì dầu mỏ, không quặng sắt thì Titan chứ cái đất đỏ bazan gì gì đó nhà mình giỏi lắm trồng được vài cây sắn, dăm cây chè là hết chứ có gì mà giàu, có gì để cho các nước lớn quan tâm? 
Nga bị cấm vận, Việt Nam không đủ sức giải vây. Nga bị tấn công, Việt Nam không có bất cứ thiết bị nào giúp họ bảo vệ tổ quốc. Vậy thì Việt Nam lấy gì để có thể trở thành đồng minh chiến lược với nước này nước kia?
Giỏi lắm thì có thể trở thành cửa ngõ để ra vào khối Đông Dương hoặc để cho Mỹ sử dụng làm điểm tựa, lâu lâu nó chạy qua đâm trộm Trung Quốc vài nhát dao rồi nó rút về nước, để lại sự tức giận của người Trung Quốc đổ lên đầu Việt Nam. 
Trong khi đó BRICS là sự sống còn của nền kinh tế lớn của 5 nước trên thế giới hiện nay mà cho tới giờ duy nhất khối đó có khả năng đối đầu với trên 730 căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài. Cũng là BRICS có khả năng duy nhất đối trọng với đồng USD hiện đang chiếm tới 60% số ngoại tệ đang lưu hành trên thế giới. Và không gì khác ngoài BRICS đang là sự sống còn của nền kinh tế nước Nga và sự tồn vong của dân tộc họ nên tất nhiên Nga phải quan hệ với Trung Quốc, với Ấn độ, với Brasil, với Nam Phi. Nhưng nó hay ở chỗ, Nga bắt tay với Ấn độ không ai nói gì. Nga bắt tay với Brasil cũng im như thóc và chỉ có Nga bắt tay với Trung Quốc thì cả cái "làng Việt Nam" bỗng chốc rộ lên phong trào "thoát Trung"!??
Kiểu hành xử nhà quê , tủn mủn như phụ nữ ( xin lỗi một nửa thế giới nha ) của dân cuồng chống Tàu. nghe đã thấy buồn cười rồi. Tai hại hơn ,nó lại vô tình cổ vũ cho các nhơn sĩ chấy thức cuồng Mỹ " đấy , thấy chưa , người bạn lớn (Nga) bắt tay với Tàu rồi , Việt Nam giờ còn ai nữa đâu , chỉ có Mỹ cứu thôi , Mỹ , Mỹ và Mỹ (vạn tuế". )
Bao Bất Đồng -Khai Phùng

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

"NGOẠI GIAO LÚA NƯỚC"


Người Việt mình nhiều người thấy Nga bắt tay với Trung Quốc là khó chịu nói thật với các bạn là tôi thấy rất giống mấy bà ở quê. 
Cứ hàng xóm kèn cựa, ghét nhau mà ai qua chơi là thành ra ghét luôn cả người đó. Nhưng thấy bà nào túm năm tụm bảy cùng mình để rủa cái nhà hàng xóm "chết tiệt" là tay bắt mặt mừng, là thân thiết này nọ khác kia mà không biết rằng sẽ có ngày cái đám miệng lưỡi ấy nó cầm dao đâm sau lưng mà không biết. 
Bạn thấy phong cách "ngoại giao lúa nước" của người Việt Nam mình qua ví dụ thực tế đó chưa?
Trung Quốc hay Nga hay Mỹ thì nước nào cũng có mặt này mặt kia và bạn nghĩ người Việt mình không vậy hay sao? Quan hệ với nhau ở đời vốn không qua nổi qui luật tự nhiên: Con bò nó ở lại một cánh đồng vì có cỏ cho nó ăn. Hạn hán, lụt lội, cỏ hết thì nó cũng tìm đi cánh đồng khác chứ ở đó mà chết đói hay sao? 
Cái nước Việt Nam bé tẹo bằng con kiến, rừng vàng biển bạc ở đâu chẳng thấy chứ trừ khi nào nước biển trở thành một nguồn tài nguyên làm giàu thì may ra nước Việt Nam mới có thể được gọi tạm là giàu tài nguyên. Còn thời buổi này không vàng thì kim cương, không khí đốt thì dầu mỏ, không quặng sắt thì Titan chứ cái đất đỏ bazan gì gì đó nhà mình giỏi lắm trồng được vài cây sắn, dăm cây chè là hết chứ có gì mà giàu, có gì để cho các nước lớn quan tâm? 
Nga bị cấm vận, Việt Nam không đủ sức giải vây. Nga bị tấn công, Việt Nam không có bất cứ thiết bị nào giúp họ bảo vệ tổ quốc. Vậy thì Việt Nam lấy gì để có thể trở thành đồng minh chiến lược với nước này nước kia?
Giỏi lắm thì có thể trở thành cửa ngõ để ra vào khối Đông Dương hoặc để cho Mỹ sử dụng làm điểm tựa, lâu lâu nó chạy qua đâm trộm Trung Quốc vài nhát dao rồi nó rút về nước, để lại sự tức giận của người Trung Quốc đổ lên đầu Việt Nam. 
Trong khi đó BRICS là sự sống còn của nền kinh tế lớn của 5 nước trên thế giới hiện nay mà cho tới giờ duy nhất khối đó có khả năng đối đầu với trên 730 căn cứ quân sự của Mỹ ở nước ngoài. Cũng là BRICS có khả năng duy nhất đối trọng với đồng USD hiện đang chiếm tới 60% số ngoại tệ đang lưu hành trên thế giới. Và không gì khác ngoài BRICS đang là sự sống còn của nền kinh tế nước Nga và sự tồn vong của dân tộc họ nên tất nhiên Nga phải quan hệ với Trung Quốc, với Ấn độ, với Brasil, với Nam Phi. Nhưng nó hay ở chỗ, Nga bắt tay với Ấn độ không ai nói gì. Nga bắt tay với Brasil cũng im như thóc và chỉ có Nga bắt tay với Trung Quốc thì cả cái "làng Việt Nam" bỗng chốc rộ lên phong trào "thoát Trung" hay "thoát Nga"!??
-KP-Khai Phùng

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Giáo xư Nguyễn Văn Tuấn và cua bò đường nhựa

Cua bò đường nhựa. 
"Việt Nam là phiên bản của Tàu, đặc biệt về tư duy: Theo GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia): “Nói “tương đồng” thì có vẻ oai, chứ Tàu nó chỉ xem Việt Nam chỉ là một phiên bản của họ. Chính vì thế mà các quan chức Tàu có thể hống hách và ngổ ngáo trong các tuyên bố như là lời phán của cha mẹ dành cho con. Việt Nam có vùng vẫy hay suy nghĩ gì thì Tàu cũng đoán trước được, vì Việt Nam chỉ học từ Tàu thôi, và đâu có thầy nào (nhất là thầy Tàu) mà dạy cho trò 100% sở trường. Sự lệ thuộc ngoại bang nó ghê gớm ở chỗ làm cho dân tộc không còn tự chủ và độc lập trong suy nghĩ, và người ngoài nhìn vào với ánh mắt khinh thường.”
(Nguyễn Văn Tuấn – Một bản sao của Tàu)



****
Các bạn có thể tin đây là phát ngôn của một vị giáo sư ?
Khoan đi vào vần đề chính của phát biểu , tôi thừa nhận rằng Việt Nam là một xã hội coi trọng người có chữ : một người có bằng cấp học vị , danh tiếng khi cất lời ( đôi khi rất chủ chuối và lố bịch ) thì phát ngôn của họ vẫn có một trọng lượng nào đấy. Cách đây hơn chục năm , khi đọc truyện ngắn của Azit Nexin "tại sao chú mèo cúp đuôi bỏ chạy" , tôi đã cười ngắt nghẻo vì cái thói cuồng người có chữ của dân Thổ Nhĩ Kỳ. Đại khái là có ông nhà văn nọ hấp hối , thấy trước mắt tối sầm nên thều thào "mở cửa ra" rồi nghẻo , chỉ có thế mà thiên hạ xúm lại mổ xẻ bình luận tán dương câu nói ấy. Tôi đã cười mấy anh Thổ để rồi giật mình nhận ra Việt Nam bây giờ chả khác Thổ Nhĩ Kỳ thập niên 80 là mấy. Ngày này năm trước xảy ra bút chiến giữa hai ông đại biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước và Dương Trung Quốc, có nhiều anh chị bênh ông Quốc thế này " ông ấy nói vậy là đúng còn gì , ông ấy là nhà sử học , là ĐBQH nữa". Ơ hay , nếu ông ấy nói cái gì cũng đúng thi người ta tổ chức ra Quốc Hội làm gì nhỉ ? Xây cái đền đặt ông Quốc vào trong ấy mà thờ như dân Tây Tạng sùng kính Lạt Lai Lạt Ma cho rồi.
Bằng cấp , học vị ...gọi chung là "trí thức" trở thành cái giấy thông hành cho người ta gia nhập sân khấu chính trị,một sân khấu ồn ào nhiều màu sắc , hỉ nộ ái ố đủ cả với anh Diện Háng , anh Quang A , anh chu Hảo , anh Chi Bô- xít , anh Tai Ương ..Cái sân khấu ấy không đưa ra cái gì mới mẻ hơn các phát ngôn của Bùi Hằng , Mẹ Nấm Gấu hay nhà rân chủ "cú có gai " Thùy Trang Nguyễn xứ "cộng Hòa Cali" nhưng được người ta đặc biệt chú ý , thậm chí cả báo chí cũng bê lên trang nhất. Sự khác biệt duy nhất giữa Bùi Hằng và "trí thức " khi chém gió chánh trị chánh em chẳng qua là ....Bằng Cấp!!!
Cái sân khấu nhộn nhịp ấy mang lại cho trí thức một thứ gọi là" danh tiếng."Quần chúng lao động như tôi khi biết danh một trí thức thì trí thức ấy phải có những đóng góp lớn lao cho nước nhà , có những cống hiến cho nhân loại làm rạng danh cho hai chữ Việt Nam. Tôi nhớ mặt , thuộc tên hết thảy trí thức trong cái sân khấu ấy nhưng ai vặn tôi họ đóng góp cái gì cho đất nước thì tôi chịu.
Trí thức, xét cho cùng là một người có trình độ chuyên môn về lĩnh vực nào đó chứ làm gì có ai tinh thông hết mội sự trên đời. Khi một trí thức nhảy sang bình luận chánh trị chánh em thì chắc gì họ đã hơn một một bình luân viên vỉa hè. Chỉ vài năm trước thôi , Giáo Sư Ngô Bảo Châu đã ngẫu hứng như thế và được báo An Ninh thế giới nhắc khéo. Thật ra giáo sư Châu với tuổi trẻ chưa đủ chín chắn để lường được cái hậu quả phát ngôn của mình được làng chống Cộng Cali tận dụng triệt để cho chiến dịch "Tố Cộng - Diệt Cộng" thời internet mà thôi. Chúng ta chắc chưa quên một vị giáo sư Nông Nghiệp bỗng nhiên đề xuất bỏ Tết Ta ăn tết Tay vì các lợi ích kinh tế - văn hóa - hội nhập gì gì đấy để rồi bị dư luận phản ứng , người ta yêu cầu giáo sư tính toán các giá trịnh tinh thần của Tết Ta là bao nhiêu , các lợi ích từ việc ăn tết Tây có bù lỗ được không .Giáo sư lặn mất...
Cái cách vị Gs Nguyễn Văn Tuấn bỗng dưng nhảy xổ sang chuyện chánh trị chánh em buồn cười và lố bịch hơn hai vị giáo sư kể trên rất nhiều. Hai vị ấy có chút hồn nhiên bộc trực , dẫu ý kiến họ có trớt quớt đi nữa người ta cũng không thấy xốn mắt như ông Tuấn. Nói của đáng tội , kiến thức lịch sử - chính trị của vị giáo sư này có khi thua anh xe ôm hay thợ hồ.
1945 ,Việt Nam tuyên bố độc lập thì Mao Trạch Đông còn bị Tưởng Giới Thạch dần cho xấc bấc xang bang thì ai mới là phiên bản của ai ? Việt Nam và Trung Quốc trở thành nước độc lập - thống nhất ( cái này anh Tàu chưa hoàn toàn ) theo hai cách rất khác nhau. Họ là nước lớn , ngàn đời nay vẫn hống hách coi thường lân bang (như một thói quen) , coi thường thì làm gì được nhau ? Nếu có chút hiểu biết lịch sử thì ai cũng biết từ năm 1975 tới nay họ chẳng đạt được cái gì trong mưu đồ thôn tính Việt Nam cả. Việt Nam vẫn cứ là cục xương không gặm được ngay mồm họ. Rất nể vị giáo sư này vì khả năng ...nằm vùng trong bộ chính trị hay văn phòng thủ tướng , ông ta dám quả quyết Việt Nam chỉ học từ Tàu , lãnh đạo bàn cái gì Tàu biết hết. (Khục ).
Tôi không biết người Mỹ , người Nhật ,người Nga , người Hàn Xẻng ...có khinh Việt Nam hay không , họ có khinh Việt Nam vì Việt Nam "học mỗi thầy Tàu" hay chăng nhưng tôi thấy rằng Vị giáo sư này đang Khinh Việt Nam. Tôi có niềm tin rằng khi nào Việt Nam còn chưa thành sân sau của Mỹ , không rập khuôn mô hình "dân chủ Mỹ" thì Ông giáo sư này vẫn cứ khinh Việt Nam vì cái tội không chịu theo Âu - Mỹ. Là một người Việt Nam có lẽ ai cũng biết mấy cái tòa khâm sứ Pháp , chức danh "toàn quyền Đông Dương" là biểu tượng một thời dân tộc ta chịu kiếp nô lệ đắng cay, và đã hơn một lần các cường quốc mua bán trên lưng chúng ta. Một dân tộc đứng lên từ vũng bùn lầy thực dân , phá tan xiềng xích giành lại độc lập , đánh bại cả đế quốc Mỹ là nhờ học ...Thầy Tàu chăng ? Hay giáo sư tin theo mấy anh Chống Cộng Cali rằng Trận Điện Biên Phủ là Tàu đánh Pháp chứ không phải Việt Minh ? Chúng ta đuổi được giặc Mỹ , diệt trừ Polpot, đẩy lui bọn bành trướng Bắc Kinh, từng bước xây dựng quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều nước - khu vực là nhờ thầy nào dạy ? Và mới đây nhất Thầy nào dạy chúng ta đuổi được cái cột mốc biên giới HD981 ra khỏi vùng Đặc quyền kinh tế của chúng ta
Với trí thức hợm hĩnh thích đá lộn sân nhằm kiếm danh kiểu này , blogger Doimat-vn nhận xét : "Mấy giáo sư ,tiến sĩ nhất là kiếm được tí danh ở nước ngoài thì cứ ngỡ mình đã là ngôi sao dẫn đường cho dư luận mà không biết được rằng thực ra họ giống như những thực thể mất cân đối trầm trọng nhưng lại cứ thích nói về phần khuyết trong hiểu biết của mình. Các ông có giỏi chuyên môn đến mấy nhưng khi lấn sân sang một lĩnh vực khác một cách vô trách nhiệm ,mù quáng ,tự cao tự đại thì chẳng khác gi tay thợ giỏi hoạn lợn nghĩ mình là bác sĩ chuyên khoa tiết niệu. "
Một đất nước có nhiều trí thức được đào tạo từ các nền giáo dục tiên tiến (Âu - Mỹ - Nhật ...) là một lợi thế trong công cuộc xây dựng đất nước nhưng sẽ là một thảm họa nếu như các tri thức ấy không có tâm và đủ tầm. Trí thức Việt Nam từ nước ngoài về chỉ có một tỷ lệ nhỏ thực sự được coi là trí thức có trí tuệ. Phần lớn họ mắc bệnh sùng bái Mỹ - Phương Tây. Họ tự cho rằng họ thuộc về một thế giới văn minh hơn đồng bào họ , văn minh hơn cả cái nền tảng văn hóa mà họ thừa hưởng từ các thế hệ trước. Họ không khác gì những con cua từ dưới ruộng bò ra đường nhựa và tưởng rằng mình thuộc về thế giới văn minh hơn hẳn giống nòi của mình. Thực chất họ chưa phải là trí thức , chưa có trí tuệ và kiến thức đủ để coi là trí thức. Nói nôm na bọn họ là trí thức dởm ( ý kiến của bạn đọc Trần Vinh ).
Một trí thức đúng nghĩa là phải bước ra thế giới học hỏi những cái gì hay ho của người ta rồi đem về đóng góp cho đất nước chứ không phải cậy mình "về từ thế giới văn minh" mà khinh rẻ đất nước , chà đạp lên các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc.

Bao Bất Đồng