Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

CHUYỆN VỂ NHỮNG LÁ CỜ


Như đã thành một thông lệ, cứ đến những ngày lễ lớn của dân tộc, đặc biệt là các ngày Quốc Khánh, ngày Giải phóng miền Nam, trên các mạng xã hội như Facebook lại ngập tràn màu đỏ quốc kỳ. Lá cờ tổ quốc là một biểu tượng trực quan, rõ ràng, riêng biệt nhất về một đất nước, một dân tộc giữa thế giới bao la này. Đó là niềm tự hào của mọi con người có đủ khả năng nhận thức và tình cảm trong sáng. Vậy mà không ít kẻ, vì những mục đích bệnh hoạn xuất phát từ sự thù hằn mù quáng vẫn không ngừng tìm cách bôi nhọ lá cờ dân tộc ấy. Trong tăm tối, chúng lần mò tìm những cọng lông tơ vương vãi, và rồi rống lên như thể đã bẫy được con voi sự thật. Bao năm nay, chúng cứ ra rả khoe vài ba cọng lông tìm được như một chiến tích kinh thiên động địa mà không biết rằng đang bị người đời nhìn bằng con mắt thương hại thế nào. Chúng thêu dệt lên đủ loại truyền thuyết về nguồn gốc lá quốc kỳ với tất cả sự khát khao chứng minh được Việt Cộng là tay sai của Trung Cộng để cố gạt đi sự thật về bản chất là tay sai ngoại bang của chúng! Nhân dịp tết độc lập này, tôi xin kể vài câu chuyện về những lá cờ. Những điều thiêng liêng gặp hoài nên trở thành bình thường nhưng đến một lúc nào đó chúng ta sẽ ngỡ ngàng khi thấy điều bình thường ấy ẩn chứa nhiều điều thú vị.

1. Trong "tam bảo" (quốc kỳ, quốc ca, quốc huy) của chế độ, quốc kỳ Việt Nam có thân phận lận đận nhất, cho đến bây giờ vẫn chưa xác định chính xác được ai là tác giả đích thực. Một thời gian dài, người ta dựa vào khảo cứu của nhà văn Sơn Tùng và cho rằng ông Nguyễn Hữu Tiến là tác giả của lá quốc kỳ đỏ sao vàng. Nhưng sau đó, Tỉnh ủy Đảng CSVN tại Mỹ Tho đã cho rằng “Lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ Mặt trận, lá cờ Tổ quốc lần đầu tiên được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ là do Xứ uỷ trực tiếp chỉ đạo. Đồng chí Phan Văn Khoẻ- Bí thư Tỉnh uỷ Mỹ Tho, Xứ uỷ viên đã giao trực tiếp cho đồng chí Lê Quang Sô nghiên cứu thiết kế”.
Như vậy lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu trong khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940). Và ngay từ lần đầu xuất hiện, lá cờ đã phải thấm đẫm máu nhân dân vì sự đàn áp của thực dân Pháp. Đến 19/05/1941, tại Cao Bằng, Bác Hồ đã chọn lá cờ này làm cờ của Mặt trận Việt Minh. Tháng 08 năm 1945, Quốc dân Đại hội tại Tân Trào đã quyết nghị lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, cờ đỏ sao vàng chính thức xuất hiện trong buổi lễ Tuyên bố độc lập tại quảng trường Ba Đình. Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký sắc lệnh quyết định quốc kỳ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng. Trong cuộc họp Quốc hội khóa I quy định cụ thể về quốc kỳ ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam Kỳ khởi nghĩa 1940. Chính lá cờ này đã cùng phái đoàn Chính phủ đi từ châu Á sang châu Âu, từ châu Âu về châu Á; cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam. Vậy thì trừ 25 triệu đồng bào, còn không ai có quyền thay đổi quốc kỳ và quốc ca".

Để làm rõ nguồn gốc lá cờ Bác mang từ nước ngoài về, cũng trong năm 1965, tôi tìm gặp được cụ Đặng Văn Cáp, một nhà nho người Hà Tĩnh, hoạt động cách mạng ở Thái Lan (nhân vật được tái hiện trong tập truyện Con người và con đường, tác giả Sơn Tùng) được Bác phân công theo dõi tin tức qua radio để báo cáo lại cho Người từ năm 1940.
Cụ Đặng Văn Cáp kể hồi ấy ở Quế Lâm, qua radio, biết ở Nam kỳ có khởi nghĩa. Bác lặng đi. Rồi Bác nói: “Dậy non rồi, tổn thất lớn”. Bác lại hỏi: “Trong khởi nghĩa Nam kỳ có gì mới nữa?”. Cụ Cáp báo cáo với Bác, trong khởi nghĩa Nam kỳ lần đầu tiên có cờ đỏ sao vàng.
Bác hỏi: “Sao mấy cánh?”. Cụ Cáp trả lời: “Họ không nói”. Bác lại hỏi: “ Sao vàng ở giữa hay ở góc?”. Cụ Cáp lại trả lời: “Cũng không thấy nói”. Bác lặng đi suy nghĩ. Rồi Bác bảo cụ Cáp ra phố mua cho Bác một tấm vải đỏ… Khi cụ Cáp mua về, Bác đã thửa lá cờ đỏ, sao vàng cắt bằng giấy vàng, có 5 cánh, dán ở giữa.

Từ năm 1955, tôi có duyên gặp và trở thành bạn tri kỷ với nhạc sỹ Văn Cao. Có lần tôi hỏi anh Văn Cao: “Khi viết Tiến quân ca, anh đã nhìn thấy cờ đỏ sao vàng chưa?”. Văn Cao trả lời: “Chưa. Mình tưởng tượng ra chứ chưa hề nhìn thấy”.
Vậy là, có một điều kỳ lạ làm tôi suy nghĩ. Bác Hồ chưa nhìn thấy cờ đỏ sao vàng, chỉ nghe cụ Đặng Văn Cáp báo cáo có cờ đỏ sao vàng trong khởi nghĩa Nam kỳ mà Bác đã thửa ra lá cờ.
Còn nhạc sỹ Văn Cao chưa hề nhìn thấy cờ đỏ sao vàng, nhưng đã viết trong Tiến quân ca: “Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước… Đoàn quân Việt Nam đi, sao vàng phấp phới. Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than”. Dường như ở đây có sự gặp gỡ về mặt tâm linh…

3. Quốc kỳ Việt Nam hiện nay, còn gọi là Cờ đỏ sao vàng, có ngôi sao vàng năm cánh đặt giữa nền đỏ hình chữ nhật. Chiều rộng lá cờ bằng 2/3 chiều dài. Năm đỉnh của ngôi sao nằm trên một đường tròn có tâm ở chính giữa lá cờ và bán kính bằng 1/3 chiều rộng (2/9 chiều dài) lá cờ. Lá cờ này thể hiện ý tưởng màu đỏ nền cờ tượng trưng dòng máu đỏ, màu vàng ngôi sao tượng trưng da vàng, và năm cánh tượng trưng cho sự đoàn kết các tầng lớp bao gồm sĩ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Theo nhà văn Sơn Tùng, ông Nguyễn Hữu Tiến có để lại một bài thơ trong đó giải thích ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng như sau:
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì Nước
Sao vàng tươi da của giống nòi
Đứng mau lên! Hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sỹ nông công thương binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh
Đoàn kết lại sức mình sẽ mạnh
Quyết đánh tan phát xít Nhật Tây…
Nhưng ý nghĩa thực sự của một lá quốc kỳ là thể hiện sự độc lập, tự do của dân tộc. Nơi nào có lá cờ tổ quốc, nơi đó người Việt Nam độc lập, tự do, bình đẳng với các dân tộc khác.

4. Sau trận đấu bóng Việt Nam - Arsenal, một anh chàng cầu thủ Arsenal đã giắt chiếc áo đấu có biểu tượng quốc kỳ Việt Nam vào "vùng nhạy cảm". Trong dư luận mạng ảo, bên cạnh các "hòn bấc ném đi" chê trách cầu thủ này không ít "hòn chì ném lại" của các fan Arsenal hay của những kẻ sính ngoại bênh vực anh chàng này. Theo lý lẽ của họ thì "ở Tây như thế là bình thường. Người ta còn lấy quốc kỳ may quần lót". Các bạn ấy không nói cụ thể là "Tây" nào nhưng tôi cho rằng ý họ nói về Hoa Kỳ. Bởi lẽ, ở các nước Âu châu cả ngàn năm văn hóa, trải qua bao thăng trầm lịch sử, tôi nghĩ họ cũng tôn trọng quốc kỳ của họ chẳng khác gì chúng ta, dù có thể khác ở cách thể hiện. Và nếu giả sử có hiện tượng 1 số người Tây Âu nào đó lấy"quốc kỳ may quần lót" thì cũng không có nghĩa là văn hóa nước họ cho phép điều đó. Nhưng nếu ở nước Mỹ người ta coi việc "may quần lót bằng quốc kỳ" là bình thường thì tôi có thể hiểu được. Ở cái xứ sở "Hợp chúng quốc" ấy, mỗi dân tộc, nhóm dân cư có những nền tảng văn hóa khác nhau và ít có cơ hội cùng đoàn kết nhau vì một mục tiêu lớn lao nào đó, hoặc cùng trải qua thời gian xây dựng đất nước kéo dài. Xét về lịch sử, xã hội, họ như những đứa trẻ con cá tính, được nuông chiều nên khó lòng thấu hiểu được giá trị thiêng liêng của lá quốc kỳ như những dân tộc đã có hàng ngàn năm tạo dựng đất nước bằng máu, mồ hôi và nước mắt.

5. Cờ đỏ sao vàng là cờ của tỉnh Phúc Kiến Trung quốc (1933)???
Bắt đầu từ hình ảnh một lá cờ trên http://www.worldstatesmen.org/China.html từ trước 2005, đám vong bản mãi quốc cầu vinh "lải nhải" về việc quốc kỳ Việt Nam vốn là cờ của tỉnh Phúc Kiến (!?). Sau khi trang web này phát hiện sai sót của mình, gỡ lá cờ đó xuống (tôi cũng chẳng biết lá cờ được đăng lúc đó như thế nào cả) thì chúng lại lu loa rằng "Lá cờ đỏ sao vàng này đã bị lấy ra sau khi Worldstatemen.org bị VC khiếu nại"(!).
Thực ra, chẳng có cái gọi là "cờ của tỉnh Phúc Kiến" mà lá cờ đó là cờ của chính phủ Cách mạng Nhân dân và nước Cộng hoà Trung Hoa (Trung Hoa Cộng hoà quốc, 中華共和國), một chính thể thành lập tại Phúc Kiến, tồn tại trong vòng có 2 tháng (11/1933 - 01/1934). Thực chất đây là một biến cố quân sự trong quân đội của Tưởng Giới Thạch khi Thái Đình Khải và Lý Tế Thâm ly khai khỏi Quốc Dân đảng. Chính phủ Phúc Kiến tuyên bố từ bỏ lá cờ "Thanh thiên bạch nhật" của chính phủ Tưởng Giới Thạch và dựng một quốc kỳ mới, được miêu tả là: nửa trên màu đỏ, nửa dưới màu xanh lam, ở giữa là ngôi sao năm cánh màu vàng (dĩ thượng hồng hạ lam trung khảm ngũ giác hoàng tinh kỳ vi quốc kỳ). Lá cờ này gần giống như lá cờ của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng khác màu xanh. Hiện nay trang web Worldstatesmen cũng đã cập nhật hình ảnh lá cờ này.

6. Một loại cờ khác của Trung Quốc thường được đám CCCĐ đưa ra làm"nguồn gốc" cho quốc kỳ Việt Nam là lá cờ chúng thấy được trong một bộ phim về Vạn Lý Trường Chinh.
Thật ra có 2 lá cờ tương tự nhau trong giai đoạn 1931 - 1937, cùng là cờ đỏ, ngôi sao trắng lớn cánh mập, ở giữa có biểu tượng búa liềm.
* Loại 1: phổ biến nhất, chính quân kỳ của Hồng quân công nông Trung Quốc. Dòng chữ đen bên trái lá cờ là "Trung Quốc công nông hồng quân". Từ năm 1949, quân kỳ của quân đội Trung Quốc là lá cờ "bát nhất" (1/8, ngày kỷ niệm thành lập quân giải phóng nhân dân Trung Quốc).


* Loại 2: Lá cờ trong đại hội đại biểu thành lập nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa (07/11/1931), một thể chế chính trị do Mao Trạch Đông đứng đầu, tại tỉnh Giang Tô, thủ đô là Thụy Kim. Tháng 12/1935, tên nước đổi thành "Cộng hòa Nhân dân Xô viết Trung Hoa". Chính quyền này tồn tại đến 1937 thì tự động giải tán khi Đảng cộng sản hợp tác với Quốc dân đảng để chống Nhật. Trong quá trình tồn tại, quốc kỳ chính thức là lá cờ nền đỏ, bên trên có hình quốc huy. Tuy nhiên, trong điều kiện bấy giờ việc in ấn một lá cờ như vậy quá phức tạp nên trên thực tế, lá cờ trong đại hội đại biểu năm 1931 được sử dụng như một sự thay thế.

Quốc kỳ chính thức của Cộng hòa Xô viết Trung Hoa
Lá cờ thay thế, chính là hội kỳ năm 1931. Dòng chữ Hán nghĩa là Trung Hoa tô duy ai cộng hoà quốc.

7. Một số người thắc mắc vì sao quốc kỳ từ 1945 - 1955 có hình "ngôi sao mập"(cong) còn về sau lại "mi nhon" như hiện giờ đang thấy. Thực chất việc thay đổi này là do nhu cầu chuẩn hóa các biểu tượng quốc gia. Có thể thấy, một ngôi sao cong vừa khó vẽ, vừa khó thiết lập tiêu chuẩn cụ thể hơn ngôi sao có các cạnh thẳng. Do đó, ngày 30/11/1955, chủ tịch nước VNDCCH đã ký sắc lệnh 249/SL, dựa trên quyết định của Quốc hội khóa họp thứ 5, 5/9/1955, về việc sửa đổi Quốc kỳ và Quốc ca. Theo đó: "những cánh sao vàng từ nay không làm theo đường cong như trước mà làm theo đường thẳng như hình vẽ ở bản Phụ lục số 1".
Phụ lục số 1 này quy định về hình dáng và màu sắc quốc kỳ như sau:
Cờ hình chữ nhất, nền mầu đỏ tươi, giữa có hình sao vàng năm cánh mầu vàng tươi. Trung tâm của sao đặt đúng trung tâm của cờ, một cánh sao quay thẳng lên phía trên.
Kích thước: Chiều rộng của cờ bằng 2 phần 3 chiều dài. Từ trung tâm A của sao đến đầu một cánh B của sao gần bằng 1 phần 5 chiều dài của cờ.

8. Việc các lá cờ hay các biểu tượng, logo có sự tương đồng là hoàn toàn dễ hiểu. Đặc biệt giữa các nước theo chủ nghĩa xã hội có nhiều điểm chung (màu đỏ của cách mạng, biểu tượng búa liềm của công nông, các ngôi sao dẫn đường) trong khi"quỹ" biểu tượng để thiết kế lại không nhiều. Do đó, trên thế giới có rất nhiều trường hợp các lá cờ giống nhau nhưng chẳng ai hơi đâu đi xoi mói và quy chụp là cờ nước này bắt chước nước kia, hay lố bịch hơn là xem nước này là  "thuộc địa" của nước khác chỉ vì lá cờ có nét tương đồng. Đến mỗi con người có 1 bộ ADN riêng biệt mà tự nhiên vẫn "đãng trí" cho ra đời những người giống nhau như đúc đó thôi.
Nếu ý tưởng về lá quốc kỳ của Việt Nam có ảnh hưởng từ một mẫu có trước nào đó thì tôi cho rằng nó chịu sự ảnh hưởng của lá cờ Liên Xô (ngoài búa liềm có ngôi sao viền vàng trên nền cờ đỏ). Biểu tượng ngôi sao đó đã được Nguyễn Ái Quốc đưa vào tờ báo Thanh niên, tờ báo cách mạng đầu tiên của dân tộc, ngay từ năm 1925.
Cờ Liên Xô (1923 - 1955)
Một mẫu cờ được cho rằng "không chính thức" của Liên Xô
Biểu tượng ngôi sao trên các số báo Thanh Niên, có từ 1925.

9. Xét về mọi tiêu chí: ý nghĩa, sự đơn giản, hiệu quả in ấn, sự nổi bật,.. quốc kỳ Việt Nam thực sự là một thiết kế tuyệt vời. Trong gian khó nhưng Cách mạng Việt Nam vẫn cho ra đời những sản phẩm trí tuệ vượt thời gian: quốc kỳ, quốc ca.
Có lẽ vì "vẻ đẹp biểu tượng thuần khiết" ấy, rất nhiều quốc gia, đảng phái, hội nhóm trên thế giới có chung ý tưởng khi chọn lá cờ cho mình.


Lá cờ "âm bản" của quốc kỳ Việt Nam này là Hội kỳ của Thanh niên tiền phong, do bác sỹ Phạm Ngọc Thạch làm chủ tịch, hoạt động tại miền Nam năm 1945. Đặc biệt, năm 1967 Nguyễn Văn Thiệu lập ra đảng Dân chủ cũng sử dụng lá cờ vàng sao đỏ này! Lá cờ này ngày nay được quốc đảoMohéli (Mwali), thuộc Comoros, sử dụng.
Lá cờ "nhái" hoàn toàn quốc kỳ Việt Nam này là cờ của Liên hiệp Thanh niên Cộng sản, thuộc Đảng cộng sản Bồ Đào Nha. Chữ "U.E.C" trên lá cờ là những chữ cái đầu của "União dos Estudantes Comunistas".

Lá cờ của hãng tàu Braun & Blanchard - Chile (1925)

10. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng có nhiều biến thể chứ không phải chỉ là lá cờ nửa đỏ, nửa xanh dương với ngôi sao vàng ở giữa.
Kiểu 1: ngôi sao ở giữa nhỏ.
Kiểu 2: ngôi sao lớn màu trắng ở giữa.
Lá cờ nửa trắng nửa đỏ này được 1 phi công Mỹ lấy được trong 1 trận chiến năm 1969, khi máy bay anh ta bay ngang qua cột cờ. Anh chàng phi công này là Harry Oberg, thuộc sư đoàn kỵ binh không vận số 1 (First Air Calvary).
Lá cờ phổ biến nhất được dùng làm Quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cũng có 2 loại "sao mập", "sao gầy" như quốc kỳ Việt Nam.
Đây là một "dị bản" khá lạ.
"Dị bản" sọc trắng ở giữa này được thấy trong chiến dịch Mậu Thân (1968) tại Huế. Loại này giống cờ của Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam.
Cờ của Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (lực lượng thứ 3) cũng có các "dị bản".
Cờ của Burkina - Faso có nguồn gốc từ cờ Cộng hòa miền nam Việt Nam?!

11. Nếu suy diễn theo kiểu đám CCCĐ đã nói ở trên, chúng ta có thể kết luận rằng các lá cờ của các đảng phái hoạt động tại miền Nam Việt Nam trước 1975 như Đại Việt Quốc dân đảng, Tân Đại Việt đảng, Đại Việt cách mạng đảng đều có nguồn gốc từ ... quốc kỳ CHDCND Triều Tiên.
Nếu nhìn ra thế giới bằng cái "tư duy" của các vị CCCĐ, sẽ có khối chuyện "tình ngay lý gian" và những vụ kiện tụng "bản quyền" không có hồi kết.
Ba nước này, ai là "thuộc địa" của ai?

Ngoài ra còn rất nhiều "biến tấu" khác ...

Chóng mặt chưa?

Cờ Vàng Mách Bu


1
XíchloViet

Bu trong tiếng Việt ở một số vùng quê miền Bắc là tiếng xưng hô chỉ người mẹ. “Mách bu” gợi lên hình ảnh đứa bé hơn, thấp cổ bé miệng hơn cầu cứu đến mẹ mong được bu bênh vực. Bu thì lại thường bênh đứa con yếu thế dù cho nó có lỗi, cho nên trò “ mách bu” được nhiều đứa trẻ áp dụng thành công. Từ ngữ mách bu được dân gian dùng để mỉa mai những kẻ yếm thế không có khả năng tự vệ luôn cần đến sự che chở của người khác.
Xâu chuỗi các sự kiện lịch sử và nếu có sự so sánh mối liên hệ bu – con ở làng quê VN và mối liên hệ Mỹ – cờ vàng thì sao nó lại tương đồng với nhau đến thế. Dân cờ vàng trước đây chỉ biết có bu, hết bu Tây rồi đến bu Mỹ, rời bu ra là chết ngay, cho nên bu đã bảo thì đố dám cãi lời, đó là sự thật lịch sử quá rõ ràng không ai có thể phủ nhận. Nếu bắt chước giáo sư Trần Chung Ngọc thì tôi sẽ nói rằng “ai phản bác thì xin mời lên tiếng”. Đối với cờ vàng thì những gì của bu bao giờ cũng là siêu việt, cho nên dân cờ vàng mang cái bệnh nghiện bu từ tấm bé.
1

Bất cứ giá trị nào từ văn hóa chính trị cho đến tôn giáo, nhân quyền cờ vàng đều lấy bu làm khuôn mẫu. Cờ vàng luôn đem bu ra làm khuôn vàng thước ngọc để chê bai đất nước dân tộc mình. Dưới mắt cờ vàng bu là vô địch. Bu của cờ vàng vĩ đại như thế cho nên không thể có chuyện bu ta thua CS được.
Cờ vàng cũng biết cái thế của mình, cho nên cũng biết làm nũng bu, biết giận dỗi khi không vừa lòng, và đôi khi bốc đồng lại dám làm trái cả ý bu. Làm trái ý bu thì bu không cần nọc xuống đánh đòn mà bu cho lên thiên đàng với chúa như Ngô Đình Diệm tổng thống nên cộng hòa thứ nhất. Tổng thống cờ vàng cộng hòa thứ hai khôn hơn nên chỉ dám làm mình làm mấy với bu rằng :
“Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập . . . . Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng (1) .
Không biết lời hù dọa bu của tổng thống cờ vàng có ép phê tới đâu nhưng người ta thấy tổng thống cờ vàng đệ nhị này vẫn tại vị đến cận ngày “mất nước”.
Đặc điểm của bu VN là cả đời hy sinh cho chồng con, tần tảo xả thân không quản ngại gian khổ để nuôi dạy con nên người. Bu của cờ vàng thì khác hẳn, vì bu không có mũi tẹt da vàng mà là mũi lõ da trắng mang trong người bản chất cao bồi cho nên không thể có những đặc điểm nhân hậu tình cảm như bu VN được. Không phải da vàng mũi tẹt nên chẳng bao giờ bu cờ vàng biết thương dân Việt. Nhưng cờ vàng có cần gì quan tâm đến chuyện ấy đâu, cờ vàng chỉ cần bu úm cho là quá đủ, dân chết có nghĩa lý gì.
Cái bài học chua xót năm xưa vì bu “bỏ rơi” còn sờ sờ ra đấy, những lời than thân trách phận mấy chục năm qua mang đậm chất cờ vàng ấy mãi cho đến nay dân cờ vàng vẫn còn lải nhải, vẫn ỉ ôi chưa dứt mà vẫn chưa thấu được trời xanh, thế mà vẫn không thể nào mở mắt được cho cờ vàng.
Thế cho nên gần sáu thập kỷ rồi cờ vàng vẫn không thể rời bu ra được để có thể đứng vững một mình. Thế mới biết bu quan trọng đối với cờ vàng như thế nào. Cờ vàng vẫn nghiện bu, vẫn muốn làm nũng bu, vẫn cần bu bảo bọc và hận CS thì cờ vàng vẫn chỉ biết mách bu thôi.
1
tượng đài bu con Mỹ Việt
Cờ vàng là đứa con lai căng được sinh ra từ cuộc hôn phối giữa thực dân Pháp và Vatican. Khi Pháp bị Việt Minh đánh cho tơi bời tan tác ở Điện Biên Phủ buộc phải ký vào hiệp định Geneve cuốn cờ để cứu lấy hơn một vạn tù binh bị Việt Minh cầm tù thì cờ vàng đã có ngay bu Mỹ giang rộng vòng tay nâng đỡ chẳng hề mồ côi ngày nào. Hai nền cộng hòa cờ vàng đều được lãnh đạo bởi các con chiên của chúa. Trên là chúa, đưới là bu bảo hộ, cờ vàng thật là diễm phúc. Có thể nói cờ vàng quả là sung sướng, quả là đứa con đẻ bọc điều, chẳng cần phải lo lắng điều gì cả, mọi việc đã có bu sắp đặt miễn là phải biết nghe lời. Điều đó giải thích tại sao gần bốn thập kỷ kể từ ngày “mất nước” cờ vàng vẫn nuối tiếc không nguôi.
Ôm lấy bầu sữa của bu để sống, cờ vàng chưa bao giờ có thể thể tự sống một mình, cờ vàng trở thành ỉ lại, biếng nhác và lệ thuộc hoàn toàn vào bu, rời bu ra là khốn đốn. Thực tế lịch sử đã cho thấy như thế. Rời bầu vú của bu, cờ vàng chỉ sống được có vài tháng.
Không phải đợi đến năm 1975 bu của cờ vàng mới “bỏ rơi” đứa con của mình, mà ngay từ năm 1968 bu đã đi đêm với CS để tính đến chuyện này. Năm 1973 sau nhiều vòng thương lượng, theo yêu sách của CS, bu Mỹ đã phải cam kết với CS rất rõ ràng là sẽ bỏ lại đứa con cờ vàng của mình mặc cho nó ra sao thì ra. Dĩ nhiên là cờ vàng nhảy cẫng lên than khóc làm mình làm mẩy khiến bu phải ra sức dỗ dành để đứa con yên lòng nhận tiền bu cố mà Việt Nam hóa chiến tranh như bu đã tính sẵn.
Hiệp định đã quy định như thế, tương lai cờ vàng đã được bu cho biết trước như thế, bu cũng đã dạy rằng con hãy đứng lên bằng chính đôi chân mình vì bu đã kiệt sức và đã hết cách với bọn CS rồi. Tuy nhiên có tiền, cờ vàng vẫn chỉ biết tiêu vung vít chẳng cần đến ngày mai. Cái não trạng ỉ lại và quen nô lệ làm cho Cờ vàng nghĩ rằng Miền Nam VN nằm ở vị trí chiến lược của Đông Dương. Bu nói thế chứ đời nào bu lại bỏ ta để cho mấy thằng CS nó chiếm.
Thế là cờ vàng cứ ung dung tự tại chẳng cần tự lực cánh sinh, chẳng cần làm ăn gì. Khi tiêu xài cạn kiệt, chẳng còn gì, bu thì khóa két, tổng thống cờ vàng vắt óc tính chuyện đi vay bu. Sợ bu không cho, cờ vàng bèn xin được thế chấp bằng vịt trời :
“Tôi trân trọng thỉnh cầu Ngài kêu gọi Quốc hội choViệt Nam Cộng hòa vay dài hạn 3 tỷ đô la, chia làm ba năm, lãi suất do Quốc hội ấn định, và xin triển hạn 10 năm trước khi trả vốn và lời. Tài nguyên dầu hoả và canh nông của Việt Nam Cộng hòa sẽ dùng làm tiền thế chân cho món nợ này. Món nợ giúp chúng tôi chống xâm lăng và cho chúng tôi cơ hội để tồn tại như một quốc gia tự do. (2) .
Từ cổ chí kim chưa một tổng thống nào trên thế giới mang vịt trời đi cầm như tổng thống cờ vàng. Có thể tổng thống cờ vàng nghĩ rằng bu cho ta còn được thì ta thế chấp con vịt trời để bu tin ta và sẽ đánh động được lòng trắc ẩn của bu bên kia đại dương. Cũng có thể tổng thống cờ vàng nghĩ rằng ba tỷ đô la để cầm con vịt trời cũng chẳng thấm vào đâu so với két bạc của bu cho nên tổng thống mới viết lá thư vay nợ lịch sử này.
Tổng thống cờ vàng dư biết rằng gạo thì phải mua của Thai Lan, Hoàng sa còn giữ không nổi thì con vịt trời cũng làm gì có mà cầm, nhưng túng quá hóa liều, ông bà ta nói đố có sai. Thế nhưng bu cờ vàng đâu có ngu cho cờ vàng vay để cầm lấy vịt trời, thế nên cờ vàng quay ra định khuân 16 tấn vàng vàng của ngân khố đi bán thì đã quá muộn rồi.
1     1
1. Hoa kỳ ký hiệp định Paris 1973 - 2. Hoa kỳ rút quân như đã ký kết
Cờ vàng quá lệ thuộc vào bầu vú bu, cứ như thằng nghiện hết tiền thì đi vay, vay không được thì gom đồ nhà đi bán, cho nên có thể nói rằng hiệp định Paris 1973 đã gõ hồi chuông báo tử cho cờ vàng ngay trong điều khoản thứ 5 mà cờ vàng vẫn chưa nhận thấy được.
Điều 5:
Trong vòng 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày ký Hiệp Định, Hoa Kỳ và các nước can thiệp (được nhắc đến trong điều 3a) triệt thoái khỏi miền Nam Việt Nam toàn bộ quân đội, cố vấn quân sự, nhân viên quân sự (kể cả nhân viên kỹ thuật quân sự, nhân viên quân sự cộng tác với chương trình hòa bình), vũ khí, đạn dược và vật liệu chiến tranh. Lực lượng cảnh sát và các cố vấn của các nước nói trên cũng như của tất cả các tổ chức bán quân sự cũng phải rút quân trong thời hạn này.
Ngay từ năm 1973, với hiệp định Paris, CS đã coi như chiến thắng vì đuổi được bu xong thì việc giải quyết thằng con chỉ là chuyện nhỏ. CS biết quá rõ, cờ vàng không thể chiến đấu một mình nếu không có bu bên cạnh. Dù bu có đổ bao nhiêu của đi nữa ngày tàn của cờ vàng chỉ là vấn đề thời gian. Để thuyết phục đứa con cờ vàng ký vào chiếu dưới của hiệp định, bu đã phải an ủi cờ vàng rằng, bu ra đi nhưng cờ vàng vẫn là con. Ở bên kia đại dương bu vẫn dõi theo và cho tiền để các con tồn tại, miễn sao các con thực hiện tốt Việt Nam hóa chiến tranh là sẽ có tiền và sẽ dư sức đối đầu với CS. Ký vào chiếu dưới mới chỉ là nỗi nhục cờ vàng, nhìn bu giũ áo ra đi mang theo bầu sữa mới là mối nguy cơ và nỗi niềm cay đắng.
Bu vừa đưa củ cà rốt, vừa lăm le cây gậy, dĩ nhiên cờ vàng chẳng dám cãi lời. Gương Ngô Đình Diệm còn sờ sờ ra đấy. Tuy nhiên khi cờ vàng ký vào hiệp định Paris chưa ráo mực , lời hứa với cờ vàng là cho tiền thì bu lờ tịt, nhưng lời hứa với CS là bu sẽ rút quân bỏ của chạy lấy người thì bu không dám nuốt lời. Trách bu nhưng cờ vàng chỉ dám ngậm đắng nuốt cay mà chưa bao giờ dám tỏ ra hận bu, chỉ biết than trời trách đất, than thân trách phận, ngậm đắng nuốt cay ôm hận vào lòng. Bao nhiêu cay cú hận thù đổ dồn về cho bọn CS.
Cái ngày “mất nước” của cờ vàng bu đã thấy trước từ rất lâu nhưng không phải cờ vàng khôn đến nỗi có thể nhận ra được cái mưu sự của bu trong cuộc chiến mà hận bu. Hơn nữa làm sao hận bu cho được khi trong cơn bĩ cực ấy bu lại giang rộng vòng tay đón lấy cờ vàng. Cuộc sống ở mẫu quốc càng làm cho cờ vàng nghĩ rằng dù bu mũi lõ nhưng vẫn còn thương mình lắm. Thế là mình vẫn còn có thể làm nũng mách bu như những ngày nào.
1
Việc “mách bu” của dân cờ vàng mấy chục năm qua nó xảy ra như cơm bữa nhưng chẳng ăn thua nhất là từ năm 1995 bu lại đi bắt tay với cựu thù thì trò mách bu của cờ vàng cứ như hét vào không khí. Cờ vàng không hiểu nổi tại sao cứ càng mách thì bu càng điếc và làm ngược lại nguyện vọng cờ vàng. Mách về đàn áp tôn giáo thì bu lại xóa nó khỏi danh sách CPC, mách nó vi phạm nhân quyền thì bu lại mời nó sang Mỹ chơi bàn chuyện làm ăn rồi đổ tiền đầu tư cho nó mạnh thêm. Kêu gọi bu đừng chơi với nó vì nó độc tài thì bu lại ủng hộ nó vào WTO. Nhân viên đại sứ quán của bu vào thăm “cha Lý ” thần tượng cờ vàng thì bị công an CS nó quật ngã dúi vào xe hơi thế mà bu chẳng lên tiếng một lời. Bây giờ bu lại lăm le tính đến chuyện làm “đối tác chiến lược” với nó nữa thì hết cách, rõ là bu thương nó hơn mình rồi.
Ôm mối hận CS trong lòng cờ vàng luôn nung nấu ý chí phục thù nhưng lực bất tòng tâm. Khi có bu bên cạnh còn chưa làm gì nổi kẻ thù, giờ đây chỉ là đứa con ghẻ trên răng dưới dép vũ trang bằng cái mồm và que cờ vàng trên tay thì làm gì nó được. Cho nên cờ vàng chỉ biết gậm nhấm nỗi căm hờn và luôn cảm thấy nuối tiếc tháng ngày xưa. Tuy nhiên cờ vàng luôn tìm đủ mọi cách để nhắc cho bu nhớ là bu từng có đứa con mang tên cờ vàng.
Dân cờ vàng rất lo sợ một ngày kia lá cờ vàng bị vùi chôn vào quên lãng. Vì thế cho nên mới có chuyện ra sức xin được bu công nhận cờ vàng chỗ này chỗ nọ, xin được treo chỗ này chỗ kia. Biểu tình thì nhất thiết phải càng nhiều cờ vàng càng tốt, có cái gì vàng vàng là quẹt thêm ba sọc đỏ vào biến nó thành “cờ”. Trong Đại Hội Thanh Niên Công Giáo, Đức thánh cha của cờ vàng cũng không thể hiểu nổi tại sao chúng nó lại cứ cố khoác lên cổ mình cái mảnh vải vàng sọc đỏ. Chẳng hiểu nó là cái quái gì, nhưng cũng chẳng sao, thôi thì ta cũng ban phép lành cho chúng nó một phát chẳng mất gì, vì ta cũng cần chúng có lòng kính chúa kính cha và cố mở rộng nước chúa.
11
Ảnh 1: Đại úy Micheal Đỗ xin chủ để được phép treo cờ Cờ Chúa 3 ngôi dưới "đít" cờ Mỹ tại Iraq. Xem http://www.dongduongthoibao.net/view.php?storyid=371
Ảnh 2. Một con chiên Việt choàng khăn quàng cờ vàng 3 ngôi lên Giáo hoàng Benedict 16
Năm 2007 trước khi có cuộc viếng thăm Mỹ của Chủ Tịch Nước VN Nguyễn Minh Triết vài tuần . Bu có mời mấy anh cờ vàng lên tòa bạch ốc để đàm luận. Ôi làm sao tả xiết sự mừng rỡ và sướng đê mê của các anh cờ vàng. Hệ thống truyền thông cờ vàng mở hết công suất xem đó là sự kiện vĩ đại. Một luật sư cờ vàng mở cuộc hội thảo phân tích tình hình VN và ba hoa rằng đây là sự kiện vô cùng quan trọng và có ý nghĩa rất to lớn với dân cờ vàng vì lần đầu tiên cờ vàng được được tổng thống mời, và ba hoa rằng có cả hội đồng an ninh quốc gia của bu tham dự. Anh này còn xác quyết VN sẽ phải “quy thuận” Mỹ, phải mời Mỹ sử dụng cảng Cam Ranh và nhận Mỹ làm bu để chống chọi với Tàu. Cử tọa cờ vàng vỗ tay lòng vui như hội.
Được gặp tống thống là dịp hiếm hoi bằng vàng để cờ vàng mách bu những chuyện ấm ức dồn nén bao năm qua khi bu sắp là bu cộng sản. Tuy nhiên sau cuộc gặp gỡ ấy người ta thấy cờ vàng lại im lìm ỉu xìu như quá bóng xì hơi thì người ta mới được biết là bu gọi lên bảo các con cờ vàng chớ có manh động khi bu tiếp khách quý.
1
Mới đây vẫn lại trò mách bu quen thuộc, dân cờ vàng phát động cái gọi là “thỉnh nguyện thư” mách bu để đề nghị bu nghỉ chơi với CS vì CS đã nhốt những anh hùng cờ vàng ở quốc nội. Điểm mới của trò mách bu này là sử dụng internet vận động mách bu tập thể để mong được bu để ý. Mấy hôm nay dân cờ vàng phấn khởi lắm, khoe là đã có mấy chục ngàn dân cờ vàng mách bu tập thể. Mong mỏi duy nhất của cờ vàng đơn giản vẫn là chỉ cần bu hỏi han một tiếng là sướng lắm rồi chứ cờ vàng đã có kinh nghiệm bao năm rằng bu cũng chẳng thể làm gì được bọn CS ngày nay.
Không mấy tin vào trò mách bu, và cũng chẳng còn hy vọng vào chúa, cờ vàng quay sang tin vào . . . thầy bói. Rất nhiều trang mạng cờ vàng đưa tin chiêm tinh gia này, nhà lý số kia tiên đoán CSVN sẽ sụp đổ, các cụ hãy cố sống để nhìn thấy hoa lài hoa cúc.
Mách bu cho đến nay vẫn còn được cờ vàng chọn làm giải pháp giải nén những cay cú CS. Mách chúa thì chúa đã quên cờ vàng dù cờ vàng đã hối lộ dâng cả giang sơn cho chúa, cầu xin chúa mấy chục năm qua chắc cũng đã thấu đến tận trời xanh rồi nhưng cộng vẫn còn mà ta thì vẫn hận. Mách bu thì dù sao vẫn còn hơn vỉ thỉnh thoảng vẫn còn được sướng vì hình như bu vẫn còn nhớ được có lá cờ vàng trên đời này.
Mách bu đã trở thành một phần trong chiến lược chống cộng của dân cờ vàng, nhưng dường như trên đời này chẳng có ai xem mách bu là một biện pháp tranh đấu ngoại trừ những đứa trẻ con yếu đuối ở mãi tận những vùng quê. Nhưng khổ nỗi không mách bu thì mách ai đây. Bởi thế cho nên cờ vàng lại tiếp tục phải mách bu và thở than cái điệp khúc:
Cộng Sản vẫn còn ta chưa chết
Ôi biết bao giờ thấy cố hương. (3)
-----------------
(1) Nguyễn Tiến Hưng : Khi đồng minh tháo chạy (Thư Nguyễn Văn Thiệu gởi quốc hội và tổng thống Hoa Kỳ)
(2) Michael Mc Lear. Vietnam, the ten thousand day war. Thames Methuen. London. 1982. pg. 896

Biểu tình và phản động là 1 nghề kiếm ra tiền


Phương Bích & Bùi Hằng - Chuyện chưa nhiều người biết

Lời dẫn: Cũng như bạn em anh tèo, nhóm Biên tập Google.tienlang cũng chưa bao giờ đủ dũng khí vào đọc lốc liếc của hai bà Phương Bích & Bùi Hằng nên không biết chuyện ỳ xèo về tiền bạc giữa họ. Hóa ra, sau vụ tiền bạc của 2 ông Quang Vinh vàXuân Diện với gia đình ông Đoàn Văn Vươn, nay lại bà Phương Bích cùng ông GS Ngô Đức Thọ cũng lèm nhèm tiền bạc với bà Bùi Hằng!!! Thể theo yêu cầu của bạn tít, chúng tôi xin chép về đây cả 2 bài liên quan từ 2 blog của bà Phương Bích & Bùi Hằng. Vì bà Phương Bích đã khóa còm nên chúng tôi quyết định chép đủ các ý kiến nhận xét từ bên đó về đây kẻo có thể mai mốt họ hạ bài như với trường hợp của ông Quang Vinh.

***********
PHƯƠNG BÍCH:
THÔNG BÁO TÌNH HÌNH CHI TIÊU SỐ TIỀN ỦNG HỘ CHỊ BÙI THỊ MINH HẰNG, TRONG THỜI GIAN BỊ BẮT GIAM VÀO TRẠI GIÁO DỤC MỘT CÁCH TRÁI PHÉP

Thưa bà con, ngày 03 tháng hai năm 2012, trên blog chimkiwi.blogspot có đăng bài kêu gọi quyên góp tài chính để thăm nuôi chị Bùi Thị Minh Hằng, bị chính quyền cưỡng bức vào trại giáo dục Thanh Hà một cách trái phép.
http://chimkiwi.blogspot.com/2012/02/thong-bao-viec-tiep-nhan-ung-ho-chi-bui.html
Lời kêu gọi này thông báo rất rõ nguyên nhân và mục đích của việc quyên góp, cũng như cách giải quyết số tiền dư nếu còn vào mục đích gì khi chị Hằng được thả.
“Số tiền nhận được chỉ sử dụng vào việc hỗ trợ cháu Bùi Trung Nhân trong việc thăm nom, tiếp tế cho chị Bùi Hằng, và thuê luật sư khi cần để khiếu nại việc bắt giữ chị một cách trái phép. Việc này sẽ duy trì cho đến khi chị Hằng được trả lại tự do. Nếu khi chị Hằng được trả tự do mà số tiền vẫn còn dư, thì số dư này sẽ dùng để ủng hộ các trường hợp bị bắt một cách oan khuất, hoặc làm từ thiện”.Cho đến tháng 5 năm 2012, chính quyền đã bắt buộc phải thả chị Hằng. Ngày 6/5/2012, cũng trên blog này đã đăng thông báo ngừng tiếp nhận việc quyên góp này.
http://chimkiwi.blogspot.com/2012/05/thong-bao-ve-viec-ngung-tiep-nhan-su.html
Từ tháng 5/2012 đến nay, số tiền này đã được sử dụng theo tiêu chí của lời kêu gọi như sau:

1/ Thu:

- Tiền Việt: 133.106.404
- USD: 1.729,25
- EUR: 200
- CAD: 300
2/ Chi: 124.010.600

Trong đó:

Đợt 1: bao gồm các khoản chi cho đến khi ngừng thông báo

- Tiền Việt: (lệch so với khi TB do trùng 1 khoản 300.000 và thiếu 1 khoản 1.000.000: 52.922.100
Bao gồm:

+ Mua đồ thăm nuôi và gửi tiền cho Bùi Hằng: 19.177.100
+ Chi tiền vé máy bay và tiền đi lại cho Bùi Nhân: 19.264.000
+ Chi tiền xăng và các khoản khác cho đoàn trong 6 lần: 14.481.000

Đợt 2:

- Tiền Việt: 71.088.500. Trong đó bao gồm:

+ Giúp đỡ bà con Đắk Nông trong thời gian đi khiếu kiện tại Hà Nội: 3.500.000
+ Giúp đỡ gia đình An Đổ Nguyễn – TP HCM: 5.011.000
+ Giúp đỡ gia đình biểu tình viên Xuân Anh – Nghệ An: 5.006.000
+ Thăm ông Bàn (Văn Giang) bị côn đồ đánh nằm viện: 1.000.000
+ Giúp bà con Đại Từ - Thái Nguyên trong thời gian đi khiếu kiện tại Hà Nội (2 lần): 5.500.000
+ Trích từ 100 EUR chị Hường gửi riêng Bùi Hằng để ủng hộ chuyến xe thồ tình nghĩa: 1.000.000
+ Giúp đỡ gia đình 3 biểu tình viên bị xử tù ở Nghệ An (Sơn, Đức, Dương): 30.005.500
+ Giúp đỡ Phạm Thanh Nghiên ổn định cuộc sống sau khi ra tù: 10.066.000
+ Giúp đỡ chị Cứ Thị Sinh (Thanh Hóa) bị ung thư: 5.000.000
+Giúp đỡ chị Ngọc Anh (dân oan Vũng Tầu bị đánh phải nhập viện): 5.000.000

3/ Tồn

- Tiền Việt: 9.095.804
- USD: 1.729,25
- EUR: 200
- CAD: 300

Tuy nhiên, chị Hằng muốn những người kêu gọi có một sự cải chính, không được dùng tên tuổi của chị Hằng để kêu gọi quyên góp, do điều này làm chị Hằng thấy bị tổn thương.

Chúng tôi thực sự không biết bằng cách nào có thể giúp một người, mà lại không được nêu tên người đó. Chúng tôi cho rằng nếu đó không phải là chị Hằng, mà là một người biểu tình vô danh nào đó bị bắt trong hoàn cảnh tương tự, hẳn bà con xa gần cũng không vì thế mà không cùng chung tay giúp đỡ. Và dù là với tên tuổi ai, thì mục đích sử dụng tiền quyên góp này cũng là để giúp đỡ những ai đi biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn và xâm lược đã bị bắt giữ trái phép, hoặc làm từ thiện.

Việc kêu gọi này cũng nằm trong khuôn khổ thời gian được xác định, thực tế đã ngừng tiếp nhận từ ngày 6/5/2012. Vì số tiền còn lại không nhiều nên sẽ chỉ giúp đỡ những gia đình có người bị bắt vì chống Trung Quốc xâm lược, và từ thiện những trong những trường hợp đặc biệt thương tâm.

Nay chúng tôi có mấy lời xin thưa lại với bà con, đã ủng hộ và chia sẻ lời kêu gọi này trong thời gian qua.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

Ngô Đức Thọ và Phương Bích

Đội Tuần dương quân đầu tiên của người Việt trước nạn cướp biển Tầu Ô

Từ khi thành lập, Tuần dương quân đã phát huy được sức mạnh của một đội thủy quân triều đình gìn giữ cương giới biển. Đội quân này từng giao chiến nhiều trận với giặc biển Tầu Ô trên Biển Đông, có lần truy kích chúng đến tận đảo Hải Nam, Trung Quốc.
Thời kỳ vua Tự Đức trị vì (1858-1883), giặc biển hoành hành trên nhiều vùng biển thuộc hải phận nước ta và trở thành ''vấn nạn" của triều Nguyễn. Đặc biệt, cướp biển Tầu Ô đã hoạt động một cách công khai, ngang nhiên ngăn chặn các tàu vận tải, tàu buôn đi lại trên vùng Biển Đông. Quan trị nhậm tại các tỉnh ven biển như Hải Dương, Quảng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An... liên tục nhiều năm dâng sớ cấp báo tình hình cướp biển đe dọa, tấn công địa phương mình.
Để đối phó với thực trạng căng thẳng này, triều Nguyễn cử các tàu chiến bọc đồng và cả tàu thủy chạy bằng hơi nước với đầy đủ quân lính trang bị vũ khí thường xuyên tuần tiễu trên biển và hỗ trợ các địa phương. Tháng 2 năm Tự Đức thứ 18 (1865), giặc biển đem hơn 50 chiến thuyền cùng súng và khí giới tràn vào ngoài khơi vùng biển Biện Sơn, Thanh Hóa, quan dân tại đây đã nỗ lực, song do thuyền đi tuần ít, lại thô sơ không đủ sức chống lại, nên phải gấp rút xin triều đình đưa thêm thuyền và quân lính tới giúp. Nhà vua phái ngay hai chiếc thuyền đồng là Thần Giao (vốn chuyên trách việc tuần tiễu từ Quảng Trị, Quảng Bình đến Quảng Nam) và Tĩnh Dương (phụ trách tuần tiễu từ Hà Tĩnh đến Nam Định) cùng 3 chiến thuyền khác đến ngay Thanh Hóa hội họp đánh giặc. Kết cục, thuyền Thần Giao bị đánh đắm, viên Quản cơ Nguyễn Trì cùng hơn 100 lính bị chết đuối. Cùng năm 1865, giặc biển lại quấy rối, cướp bóc nhiều địa phương khác như Cửa Quyền (Nghệ An), Cửa biển Hải Vân...
Năm 1871, đám giặc Hoàng Tề liên hệ với đảng giặc Tô Tứ đưa bọn giặc người Tàu cùng hơn 70 chiếc thuyền đến đậu tại vùng biển Cát Hải, Hải Phòng, lợi dụng cơ hội tràn vào trong sông cướp hại nhiều lần. Triều đình lệnh cho các tàu máy hơi nước Mẫn Thỏa, Đằng Huy và tàu bọc đồng Tĩnh Hải, Tường Nhạn tập trung để dẹp giặc.
Vua Tự Đức lo lắng trước tình trạng cướp biển ngày càng gia tăng, đã ban Sắc cho bộ Binh nhắc nhở các quan Đại thần phụ trách phải lưu ý tăng cường bổ sung thêm các tàu thuyền của triều đình cũng như tại các địa phương: Các tỉnh đạo ven biển có rất nhiều thuyền giặc... mà bờ biển dài suốt, chỗ nào cũng có dân ở, đề phòng thời khó được chu toàn, bỏ mặc cũng không được. Gần đây, các thuyền đồng Thần Giao và thuyền đi tuần cũng bị hỏng một lúc, ta thường bận lòng nghĩ ngợi. Hiện nay, thuyền ở Kinh thiếu nhiều, chỉ còn vài ba chiếc, chẳng được việc gì, nên do các tỉnh đem binh thuyền tự giữ lấy, tùy theo số giặc ra biển chặn đánh... hoặc sức cho các tỉnh lựa chọn những thuyền đi buôn hay đánh cá, ngầm phục biền binh súng ống, khí giới, giả dạng làm thuyền buôn, độ 2-4 chiếc đi thành một hàng, dụ họ vào cửa biển, duy ở người ta khéo sắp xếp là được.
Từ thực tế chiến trận cùng với nhận xét của chính vua Tự Đức, có thể nhận thấy thủy quân thời kỳ này còn yếu và lạc hậu, nên không thể thực hiện việc truy quét hải tặc và hỗ trợ hiệu quả cho các thuyền buôn và vận tải khi gặp nạn. Sách Đại Nam thực lục đã ghi lại không ít lần thủy quân triều Nguyễn phải chịu thua thiệt trước sức tấn công mạnh mẽ của lực lượng này. Quy mô, số lượng các lần tấn công của giặc biển ngày càng lớn, đã có lần chúng đưa vài trăm thuyền tới tham chiến, như năm 1865, có hơn 300 thuyền từ các đảo Phù Long, Cát Bà (tỉnh Quảng Yên), chia làm 3 chi đến quấy nhiễu. Triều đình đã phải thuê nhờ các lực lượng bên ngoài giúp đỡ, Bành Đình Tú chỉ huy đội thuyền triều Thanh cũng từng đưa quân sang tiễu trừ giặc biển theo yêu cầu triều Nguyễn. Ngay vua Tự Đức có lần cho rằng, bọn giặc biển quấy nhiễu lan tràn, muốn thuê tàu máy của người Pháp giúp việc đánh dẹp.
Trong triều đình Tự Đức lúc này, có những đại thần rất quan tâm chú trọng tới việc phát triển giao thông đường thủy trong sông và ngoài biển, mở rộng buôn bán với các nước. Vì thế, nhiệm vụ tiễu trừ giặc biển trở thành một nhiệm vụ hàng đầu, bức thiết cho cả triều đình. Bùi Viện là một viên quan có suy nghĩ sâu sắc, tâm huyết với công cuộc phòng thủ trên biển.
Vào năm 1876, Bùi Viện đã dâng một bản Tấu lên vua Tự Đức đề nghị thành lập một ''đội hải quân đi tuần khắp miền duyên hải nước ta" với chức trách cụ thể là "vận tải lương tiền của nhà nước, hộ vệ các nhà buôn và trừ diệt những giặc bể còn đương hoành hành ở Biển Đông". Giữa lúc tình hình trên biển đang ''nóng'' và chưa tìm được giải pháp, thì những lời tâu chan chứa nhiệt tình của Bùi Viện đã lập tức được đương kim hoàng đế chấp thuận. Triều Nguyễn giao cho Bùi Viện chức Tham biện thương chính kiêm Tuần hải nha Chánh quản đốc. Ông đã tổ chức và trực tiếp chỉ huy đội Tuần dương quân trong nha Tuần hải, với nhiệm vụ chính là tuần tiễu, phòng vệ trên biển, chặn đánh hải tặc, bảo vệ các tàu thuyền buôn và vận tải trong, ngoài nước đi lại trong vùng biển quốc gia.
Nhằm giữ nghiêm kỷ cương phép nước, chỉnh đốn tổ chức, ngoài những quy định chung trong thủy quân, Bùi Viện lại đặt thêm luật lệ gồm 12 điều cho lực lượng Tuần dương quân. Lực lượng này được chia thành hai bộ phận: Thanh Đoàn và Thủy Dũng với những trang phục khác nhau để phân biệt. Trong đó, bộ phận Thanh Đoàn đội mũ vải, mặc áo nẹp xanh và Thủy Dũng đội nón dấu, mặc áo nẹp đỏ. Các tàu thuyền chiến tham gia đội quân này được gọi là thuyền Tuần dương. Tuần dương quân còn được bố trí tại các chi điếm của nha Tuần hải ở nhiều thương cảng, cửa biển trọng yếu trong nước.
Từ khi thành lập, Tuần dương quân đã phát huy được sức mạnh của một đội thủy quân triều đình gìn giữ cương giới biển. Đội quân này từng giao chiến nhiều trận với giặc biển Tầu Ô, có lần truy kích chúng đến tận đảo Hải Nam, Trung Quốc. Từ đó, bọn cướp biển không dám liều lĩnh xâm phạm vùng biển nước ta như trước nữa. Dần dần các tuyến hàng hải trở lại yên ổn, an ninh biển đảo được giữ vững, các cửa biển trở nên sầm uất hơn, thương thuyền ra vào trao đổi hàng hóa ngày một nhiều. Việc buôn bán trong Nam ngoài Bắc được phát đạt, cũng nhờ thế việc thông thương qua đường biển với các nước ven biển được đẩy mạnh.
Hoạt động của đội Tuần dương quân đang được phát triển theo chiều hướng thuận lợi và mang lại hiệu quả tích cực cho triều đình, thì không may, Bùi Viện đột ngột mắc trọng bệnh và mất tại Kinh thành Huế vào cuối năm 1878. Lực lượng Tuần dương quân từ khi ông từ trần, không được tiếp tục củng cố và hoàn thiện, thậm chí sau này không còn thấy xuất hiện và tồn tại nữa. Nguyên nhân chính là khó tìm thấy một vị quan triều Nguyễn đương thời có tâm huyết và tài năng như Bùi Viện, để có thể chỉ huy đội thủy quân tuần tiễu trên biển. Các bạn cùng làm quan trong triều và dân chúng rất thương tiếc ông. Nguyễn Tư Giản đã có đôi câu đối viếng nói lên ý chí nguyện vọng sinh thời của Bùi Viện:
Kiếp sau chưa dứt niềm Nhà nước
Chí lớn đành đem gửi biển non
TS. NGUYỄN HỮU TÂM (VIỆN SỬ HỌC VIỆT NAM) / BÁO BIÊN PHÒNG

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

MÝ ĐÃ BIẾN SÀI GÒN THÀNH Ổ ĐIẾM

Nhiều người nói :"VNCH là một nơi giàu có "
 Miền Nam (1) được thiên nhiên ưu đãi về ruộng đất bao la (đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn gần gấp bốn lần đồng bằng sông Hồng Hà), phì nhiêu hơn (do phù sa sông Cưu Long bồi đắp), lại không có nắng hạn, bão và lụt, (2) hàng năm tiếp nhận hàng tỉ tiền viện trợ Mỹ để nuôi báu cô bộ máy chính quyền miền Nam và gần triệu quân lính đánh thuê của miền Nam (3) những đồng tiền tung vãi ra theo “quy luật kinh tế giây chuyền” do sự tiêu xài hoang phí  trong đó có vấn đề du hí đú đởn (a) của hơn nửa triệu quân lính Hoa Kỳ và hàng trăm ngàn quân lính của các quốc gia đồng minh của Mỹ tham chiến như Úc, Thái Lan, Nam Hàn, Phi Luật Tân, (b) của hàng trăm ngàn nhân viên dân sự Mỹ làm việc tại các công ty tư nhân Mỹ tại miền Nam Việt Nam, (c) của hàng trăm ngàn nhân viên người Việt làm cho các sở Mỹ được trả lương hậu gấp bội phần đồng lương hàng tháng của các nhân viên chính quyền và sĩ quan trong quân đội Miền Nam, (d) đặc biệt của những người nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong chính quyền cũng như trong quân đội có khả năng lạm dụng quyền hành để làm tiền bất chính bằng trăm phương ngàn kế, (e) những người giàu có lại xây nhà lầu cho Mỹ thuê và trở thành phong trào rầm rộ. Năm 1973, Mỹ rút đi, các căn nhà lầu này trở nên trống rỗng. Trong hồi ký của ông Vũ Quốc Thúc, cựu Tổng Trưởng Kinh Tế thời bấy giờ, chính ông cũng có xây nhà cho Mỹ thuê.
Nạn đĩ điếm ở Miền Nam thời Mỹ
Sự tiêu xài hoang phí của những loại người trên đây cùng với sư lũng đoạn chính quyền của giới tu sĩ áo đen và dư Đảng Cần Lao Công Giáo đã làm cho xã hội miền Nam được phồn vinh một cách giả tạo, và biến thành một xã hội đĩ điếm được thể hiện ra qua câu vè “nhất đĩ, nhì cha, tam sư tứ tướng”, và nổi tiếng thế giới mà nhà viết sử Stanley I. Kutler viết trong Encyclopedia of The Vietnam War (New York: Simon & Schuster McMillan: 1996) như sau:
“Đối với hầu hết người dân trong các thành phố, đời sống càng ngày càng trở nên khó khăn. Vào năm 1972, có vào khỏang 800 ngàn trẻ em mồ côi lang thang trên các vỉa hè trong các đường phố ở Sàigòn và một số thành phố khác, sống bằng nghề ăn mày, đánh giầy, rửa xe, móc túi và dẫn khách làng chơi về cho chính chị gái và mẹ của chúng. Có vào khoảng 500 ngàn gái điếm và gái bán ba, trong đó có nhiều người là bà vợ của anh em quân nhân trong quân đội miền Nam. Họ phải làm cái việc ô nhục này để phụ cặp đồng lương chết đói của ông chồng không đủ nuôi cho một người. Ngoài ra, lại còn có khoảng 2 đến 3 triệu người, trong đó có những người già cả hay thương phế binh của quân đội miền Nam không thể nào tìm được công ăn việc làm. Vào năm 1974, tình trạng đói đã lan rộng ra nhiều nơi trên lãnh thổ miền Nam. Theo cuộc thăm dò của anh em sinh viên Ca-tô thì ngay trong khu vực giầu có nhất trong thành phố Sàigòn, chỉ có 1/5 tổng số gia đình có đủ ăn, một nửa tổng số gia đình cho là có thể lo được mỗi ngày một bữa cơm và một bữa cháo bằng thứ gạo rẻ tiền nhất. Các gia đình còn lại đều đói cả. Đói và thất nghiệp đưa đến tội ác, tự tử và biểu tình trong khắp các vùng do chính quyền Sàigòn kiểm soát.”http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5313

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

NGU cho kẻ vi phạm , NGU cho kẻ truyền bá

ngu hay cố tình không hiểu hay ngu có hệ thống tổ chức hả các bợn.
uy hiếp, dùng vũ lực ép Chủ tịch UBND xã Nghi Phương và các cán bộ phải ký tên vào cái gọi là “bản cam kết” đề nghị Công an tỉnh Nghệ An thả hai đối tượng Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải. (đây là hai đối tượng đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An khởi tố về tội gây rối trật tự công cộng, quy định tại Điều 245 Bộ Luật hình sự). 
các anh có biết là chính quyền xã Nghi Phương không đủ thẩm quyền để quyết định việc bắt hay thả, mà việc này là do Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Nghệ An quyết định.
Linh Nguyễn 

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

lễ thượng kỳ Việt Nam tại tòa thị chính San Francisco

KBCHN: Năm nay ngày Lễ Độc Lập Việt Nam 2/9/2013 rơi đúng vào ngày thứ Hai đầu tháng tức là Lễ Lao Động Hoa Kỳ (Thứ Hai đầu thượng tuần tháng 9) thành phố nghỉ lễ. Tổng Lãnh Sự Việt Nam Nguyễn Bá Hùng đã quyết định chọn ngày thứ Năm 5/9/2013 để làm lễ thượng kỳ Việt Nam tại tòa thị chính San Francisco như thông lệ hằng năm. Sau đó, một buổi tiệc tiếp tân tại Intercon Ballroom, InterContinental San Francisco. KBCHN nhận được thiệp mời và đã nhận lời, tuy nhiên giờ phút chót không thể tháp tùng phái đoàn Nam California.
2-9-2013
Nhân dịp 68 năm ngày thành lập nước CHXHCN Việt Nam (2/9/1945-2/9/2013), Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Thành phố San Francisco, bang California, Hoa Kỳ và chính quyền Thành phố San Francisco đã phối hợp tổ chức lễ treo Quốc kỳ CHXHCN Việt Nam. Ông Tổng lãnh sự Nguyễn Bá Hùng và ông Mark Chandler, Giám đốc Kinh tế Đối ngoại thành phố San Francisco đã kéo lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam treo lên trước mặt tiền Toà Thị chính Thành phố.
Đến dự lễ, về phía Việt Nam có các cán bộ của Tổng lãnh sự quán Việt Nam, cơ quan Thương vụ, Hàng không Việt Nam và các đại diện Việt kiều tại thành phố San Francisco. Phía Hoa Kỳ có các quan chức đại diện Bộ Ngoại giao, Thành phố San Francisco và Ủy ban Kết nghĩa Thành phố San Francisco – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Thành phố San Francisco và Tổng lãnh sự Việt Nam cùng những người tham dự đã mở rượu chúc mừng ngày Quốc khánh Việt Nam. Ông Mark Chandler đã trao cho ông Nguyễn Bá Hùng bản tuyên bố của Thành phố và địa hạt San Francisco do Thị trưởng Edwin Lee ký với nội dung tuyên bố ngày 2-9-2013 là ngày Di sản-Hữu nghị Mỹ-Việt tại Thành phố và Địa hạt San Francisco.
Ngay sau lễ treo Quốc kỳ, Tổng lãnh sự Việt Nam tại San Francisco đã tổ chức chiêu đãi nhân kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 68 nước CHXHCN Việt Nam với sự hiện diện của đông đảo các quan chức chính quyền địa phương, đoàn ngoại giao và bà con kiều bào.


Tối thứ Năm 5/9/2013, TLS Nguyễn Bá Hùng cũng có tiệc khoản đãi phái đoàn ở xa về tham dự ngày Lễ Quốc Khánh và thượng kỳ Việt Nam.


Phóng viên của KBCHN ở San José có mặt ghi nhận khoảng 5, 6 người cầm cờ VNCH lác đác đứng dưới ngửa mặt lên trời ("than vãn"?) nhìn lên ban công chào Quốc Kỳ Việt Nam trên tiền đình tòa thị sảnh San Francisco. Theo chương trình TLS đã khoản đã buổi tiệc trưa tại InterContinental, San Francisco (có lẽ tin tức nghe được trên Tiếng Quê Hương?) nhóm biểu tình cũng lẽo đẽo đi theo, nhưng vì nơi đây là cơ sở thương mại nên cảnh sát đã ngay lập tức giải tán trừ 2 người mang máy quay phim và phóng viên của một đài truyền hình Việt Nam tại địa phương được đứng lại làm phóng sự.